The return: A Rhapsody

This rhapsody was inspired by the poet’s final retirement from official life in the winter of 405, as
were the “Five Poems on Returning to Dwell in the Country” of the following year.


I was poor, and what I got from farming was not enough to support my family. The house was full of
children, the rice-jar was empty, and I could not see any way to supply the necessities of life.
Friends and relatives kept urging me to become a magistrate, and I had at last come to think I
should do it, but there was no way for me to get such a position. At the time I happened to have
business abroad and made a good impression on the grandees as a conciliatory and humane sort
of person. Because of my poverty an uncle offered me a job in a small town, but the region was still
unquiet and I trembled at the thought of going away from home. However, Pengze was only thirty
miles from my native place, and the yield of the fields assigned the magistrate was sufficient to keep
me in wine, so I applied for the office. Before many days had passed, I longed to give it up and go
back home. Why, you may ask. Because my instinct is all for freedom, and will not brook discipline
or restraint. Hunger and cold may be sharp, but this going against myself really sickens me.
Whenever I have been involved in official life I was mortgaging myself to my mouth and belly, and
the realization of this treatly upset me. I was deeply ashamed that I had so compromised my
principles, but I was still going to wait out the year, after which I might pack up my clothes and slip
away at night. Then my sister who had married into the Cheng family died in Wuchang, and my only
desire was to go there as quickly as possible. I gave up my office and left of my own accord. From
mid-autumn to winter I was altogether some eighty days in office, when events made it possible for
me to do what I wished. I have entitled my piece “The Return”; my preface is dated the eleventh
moon of the year yi-si (405).



To get out of this and go back home!
My fields and garden will be overgrown with weeds –
 I must go back.
It was my own doing that made my mind my body’s slave
Why should I go on in melancholy and lonely grief?
I realize that there’s no remedying the past
But I know that there’s hope in the future.
After all I have not gone far on the wrong road
And I am aware that what I do today is right, yesterday wrong.
My boat rocks in the gentle breeze
Flap, flap, the wind blows my gown;
I ask a passerby about the road ahead,
Grudging the dimness of the light at dawn.
Then I catch sight of my cottage –
 Filled with joy I run.
The servant boy comes to welcome me
 My little son waits at the door.
The three paths are almost obliterated
 But pines and chrysanthemums are still here.
Leading the children by the hand I enter my house
 Where there is a bottle filled with wine.
I draw the bottle to me and pour myself a cup;
Seeing the trees in the courtyard brings joy to my face.
I lean on the south window and let my pride expand,
I consider how easy it is to be content with a little space.
Every day I stroll in the garden for pleasure,
There is a gate there, but it is always shut.
Cane in hand I walk and rest
Occasionally raising my head to gaze into the distance.
The clouds aimlessly rise from the peaks,
The birds, weary of flying, know it is time to come home.
As the sun’s rays grow dim and disappear from view
I walk around a lonely pine tree, stroking it.

Back home again!
Many my friendships be broken off and my wanderings come to
 an end.
The world and I shall have nothing more to do with one another.
If I were again to go abroad, what should I seek?
Here I enjoy honest conversation with my family
And take pleasure in books and zither to dispel my worries.
The farmers tell me that now spring is here
There will be work to do in the west fields.
Sometimes I call for a covered cart
Sometimes I row a lonely boat
Following a deep gully through the still water
Or crossing the hill on a rugged path.
The trees put forth luxuriant foliage,
The spring begins to flow in a trickle.
I admire the seasonableness of nature
And am moved to think that my life will come to its close.
 It is all over –
So little time are we granted human form in the world!
Let us then follow the inclinations of the heart:
Where would we go that we are so agitated?
I have no desire for riches
And no expectation of Heaven.
Rather on some fine morning to walk alone
Now planting my staff to take up a hoe,
Or climbing the east hill and whistling long
Or composing verses beside the clear stream:
So I manage to accept my lot until the ultimate homecoming.
Rejoicing in Heaven’s command, what is there to doubt?


                                                                   TAO YUANMING
                                                                 
 (TR: J. R. HIGHTOWER)


   QUI KHỨ LAI TỪ

1.        Qui khứ lai hề! điền viên tương vu hồ bất qui?
 Kí tự dĩ tâm vi hình dịch, hề trù trướng nhi độc bi?
 Ngộ dĩ vãng chi bất gián, tri lai giả chi khả truy.
 Thực mê đồ kì vị viễn, giác kim thị nhi tạc phi.
5.        Chu dao dao dĩ khinh dương, phong phiêu phiêu nhi xuy y.
 Vấn chinh phu dĩ tiền lộ, hận thần quang chi hi vi.
 Nãi chiêm hành vũ, tái hân tái bôn,
 Ðồng bộc hoan nghinh, trĩ tử hậu môn.
 Tam kinh tựu hoang, tùng cúc do tồn.
10.        Huề ấu nhập thất, hữu tửu doanh tôn.
 Dẫn hồ thương dĩ tự chước, miện đình kha dĩ di nhan.
 Ỷ nam song dĩ kí ngạo, thẩm dong tất chi dị an.
 Viên nhật thiệp dĩ thành thú, môn tuy thiết nhi thường quan.
 Sách phù lão dĩ lưu khế, thời kiểu thủ nhi hà quan.
15.        Vân vô tâm dĩ xuất tụ, điểu quyện phi nhi tri hoàn.
 Cảnh ế ế dĩ tương nhập, phủ cô tùng nhi bàn hoàn.
 Qui khứ lai hề! Thỉnh tức giao dĩ tuyệt du!
 Thế dữ ngã nhi tương di, phục giá ngôn hề yên cầu?
 Duyệt thân thích chi tình thoại, lạc cầm thư dĩ tiêu ưu.
20.        Nông nhân cáo dư dĩ xuân cập, tương hữu sự ư tây trù.
 Hoặc mệnh cân xa, hoặc trạo cô chu,
 Kí yểu điệu dũ tầm hác, diệc kì khu nhi kinh khưu.
 Mộc hân hân dĩ hướng vinh, tuyền quyên quyên nhi thủy lưu.
 Tiện vạn vật chi đắc thời, cảm ngô sinh chi hành hưu.
25.        Dĩ hĩ hồ! Ngụ hình vũ nội phục kỉ thì, hạt bất ủy tâm nhiệm khứ lưu?
 Hồ vi hoàng hoàng, dục hà chi?
 Phú quí phi ngô nguyện, đế hương bất khả kì.
 Hoài lương thần dĩ cô vãng, hoặc thực trượng nhi vân ti.
 Ðăng đông cao dĩ thư khiếu, lâm thanh lưu nhi phú thi.
30.        Liêu thừa hóa dĩ qui tận, lạc phù thiên mệnh phục hề nghi!


                                                                                                                           ÐÀO UYÊN MINH


DỊCH VĂN XUÔI:

                
    BÀI TỪ [1] “VỀ VƯỜN”

1.- Về đi thôi, vườn ruộng sắp hoang vu rồi, sao chẳng về? 2.- Ðã tự đem tâm mình để cho hình hài
sai khiến thì sao còn rầu rĩ mà buồn thảm một mình? 3.- Giác ngộ rằng việc đã qua thì không ngăn
lại được nữa, mà biết rằng việc sẽ tới có thể sửa kịp được. 4.- Hiện nay đi vào con đường mê còn
chưa xa, biết rằng nay là phải mà xưa là trái.

5.- Con thuyền lay động mà lúc lắc nhẹ, gió hây hẩy mà thổi vào áo; 6.- Hỏi khách đi đường về con
đường ở phía trước, hận rằng ánh sáng buổi sớm còn yếu mờ mờ. 7.- Thấy cây ngang làm cửa và
thấy phòng của nhà mình [2] thì vừa mừng vừa chạy. 8.- Ðày tớ vui vẻ ra đón, trẻ con đợi mình ở
cửa. 9.- Ba con đường trong vườn đã hoang, nhưng tùng cúc vẫn còn. 10.- Dắt trẻ vào nhà, có
rượu đầy vò. 11.- Nâng bầu rượu và chén rượu mà tự chuốc cho mình, ngó cành lá trước sân mà
nét mặt vui lên. 12.- Dựa cửa sổ phía nam để gởi cái tâm tình phóng khoáng, thấy rằng có thể sống
an nhàn ở nơi nhỏ hẹp chỉ đủ để duỗi chân này được. 13.- Ngày ngày có cái thú dạo chơi ở vườn,  
cửa tuy có mà thường đóng. 14.- Chống gậy [3] để thường nghỉ ngơi, có lúc ngẩng đầu mà nhìn ra
xa. 15.- Mây vô tâm mà bay ra khỏi núi, chim bay mỏi mà biết đường về. 16.- Cảnh âm u, trời sắp
lặn, vỗ cây tùng lẻ loi mà xẩn vẩn (không nở dứt).

17.-  Về đi thôi, xin đoạn tuyệt giao du! 18.- Ðời với ta đã từ bỏ nhau, còn xả giao để cầu gì? 19.-
Vui vẻ nghe lời chuyện trò của người thân thích, vui với đàn và sách để giải nỗi u sầu. 20.- Nông
phu bảo ta rằng xuân đã đến, sắp phải cày bừa ở ruộng phía tây. 21.- Có khi ngồi trong chiếc xe có
màn, có khi chèo một chiếc xuồng con, 22.- đã vào trong sâu tìm khe nước, lại gập ghềnh mà qua
gò. 23.- Cây mơn mởn tươi tốt, suối róc rách bắt đầu chảy ra. 24.- Khen vạn vật đắc thời [4] , cảm
khái cho việc xuất xử của ta [5]. 25.- Nhưng thôi, gởi hình hài này trong vũ trụ được bao lâu, sao
chẳng phóng tâm mà mặc kệ khứ hay lưu [6]. 26.- Sao mà ý chí bất định, muốn đi đâu? [7] 27.- Phú
quí không phải
là sở nguyện của ta, mà cung tiên [8] không thể tới được. 28.- Thích thời tiết tốt mà đi chơi một
mình, hoặc dựng gậy đó mà đi bừa cỏ, vun gốc lúa. 29.- Lên ruộng cao mà khoan khoái, hò hát,
xuống dòng nước xanh mà ngâm phú ngâm thơ. 30.- Buông xuôi theo luật biến hóa tự nhiên mà
cùng về chỗ tiêu diệt, vui mệnh trời, đừng ngờ gì nữa!


CHÚ THÍCH:

[1]. Từ là một thể văn xuôi có vần, có lẽ phát sinh ở nước Sở từ thời Chiến quốc. Ngày nay ta có
 thể coi thể này như một thể thơ mà số chữ trong câu không nhất định.
[2]. Ý nói: ở xa thấy căn nhà thô lậu của mình, thô lậu vì chỉ dùng một cây ngang làm cửa.
[3]. Nguyên văn là “phù lão”: cây để đỡ người già.
[4]. Vì cây cỏ tươi tốt, suối chảy róc rách.
[5]. Buồn cho mình không gặp thời. Từ Long dịch là buồn vì mình già rồi. Ta nên nhớ hồi đó Ðào
 Tiềm mới khoảng 40, nhưng tuổi đó cổ nhân cũng có thể cho là già.
[6]. Cổ Văn Bình Chú giải thích khứ hay lưu là chết hay sống. Hoặc giả khứ hay lưu còn có nghĩa
 là “thôi làm quan hay còn làm quan”. Nếu hiểu theo nghĩa chết hay sống thì câu trên,
 “hành hưu” phải hiểu như Từ Long.
[7]. Chúng tôi dịch theo lối giải nghĩa trong Cổ Văn Bình Chú.
[8]. Nguyên văn: đế hương là quê hương của Thượng đế.   


DỊCH THƠ:



                        
 BÀI TỪ “VỀ VƯỜN”

Ði về, sao chẳng về đi?
Ruộng hoang vườn rậm, còn chi không về?
Ðem tâm để hình hài sai khiến,
Còn ngậm ngùi than vãn với ai?
Ăn năn thì sự đã rồi,
Từ đây nghĩ lại biết thôi mới là.
Lối đi lạc chửa xa là mấy,
Nay khôn rồi chẳng dại như xưa.
Con thuyền thuận nẻo gió đưa,
Gió hây hẩy áo, thuyền lơ lửng chèo.
Hỏi hành khách lối nào đi tới,
Bóng mập mờ trời mới rạng đông,
Miền quê nẻo bước xa trông,
Chân hăm hở bước, đường mong tới nhà.
Chạy đón chủ năm ba đày tớ,
Ðứng chờ ông mấy đứa trẻ con.
Rầm rì ba khóm con con,
Mấy cây tùng cúc hãy còn như xưa.
Tay dắt trẻ vào nhà mừng rỡ,
Rượu đâu đà sẵn chứa đầy vò.
Thoạt ngồi tay đã nghiêng hồ,
Cười nom sân trước thấp tho mấy cành.
Ngồi diễu cợt một mình trước sổ,
Khéo cũng hay vừa chỗ rung đùi.
Thăm vườn dạo thú hôm mai,
Cửa dù có, vẫn then cài như không.
Chống gậy dạo quanh vườn lại nghỉ,
Ngắm cảnh trời khi ghé trông lên.
Mây đùn mấy đám tự nhiên,
Chim bay mỏi cánh đã quen lối về.
Bóng chiều ngả bốn bề bát ngát,
Quanh gốc tùng tựa mát thảnh thơi.
Từ đây về thực về rồi,
Thôi xin từ tuyệt với người vãng lai.
Ví ta đã với đời chẳng hiệp,
Cần chi mà giao thiệp với ai?
Chuyện trò thân thích mấy người,
Bạn cùng đèn sách khi vui đỡ buồn.
Người làm ruộng ôn tồn hỏi chuyện,
Tới xuân rồi sắp đến việc ta.
Hoặc truyền sắm sửa cân xa (*)
Hoặc khi đủng đỉnh thuyền ra cõi đồng.
Dưới khe nọ nước vòng uốn éo,
Bên đường kia gò kéo gập ghềnh,
Cỏ cây mơn mởn màu xanh,
Suối tuôn róc rách bên ghềnh chảy ra.
Ngắm muôn vật đương mùa tươi tốt,
Ngán cho ta thôi trót già rồi.
Thôi còn mấy nỗi ở đời,
Khứ lưu sao chẳng phóng hoài (**) tự nhiên.
Cớ chi nghĩ thêm phiền tấc dạ,
Ði đâu mà tất tả vội chi?
Giàu sang đã chẳng thiết gì,
Cung tiên chưa dễ hẹn gì lên chơi.
Chi bằng lúc chiều trời êm ả,
Việc điền viên vất vả mà vui.
Lên cao hát một tiếng dài,
Xuống dòng nước chảy ngâm vài bốn câu.
Hình thể này mặc dầu tạo hóa
Tới lúc nào hết cả thì thôi,
Lòng ta phó với mệnh trời,
Ðừng ngờ chi nữa, cứ vui vẻ hoài.


                                 TỪ LONG dịch

(*) Cân xa là xe có màn.
(**) Phóng hoài là thả lòng.


Từ Long là tên hiệu của cụ Lê Ðại, một nhà nho trong nhóm Ðông Kinh Nghĩa Thục,
môn đệ của cụ Vũ Phạm Hàm, văn thơ tươi đẹp, nhưng thi mấy khoa không đậu.
Ðặc biệt là thơ nôm của cụ cũng hay (mà chữ viết cũng tốt), đọc bản dịch trên chắc
đọc giả đã nhận thấy điều đó.



** Trích:
CỔ VĂN TRUNG QUỐC, NGUYỄN HIẾN LÊ soạn, TAO ÐÀN xuất bản, 1966.




                                                                   ________________