Ba Lan
mùa ‘tuyết tan’
_________________________________________________________________________
Tuesday, October 31, 2006
Ông lái taxi tìm một con đường tắt để tránh kẹt xe trong giờ đi làm trong thành phố Warszawa
(tiếng Anh viết là Warsaw), nên ông đưa tôi đi qua một khu biệt thự ven đồi. Trong lúc giới
thiệu những ngôi nhà sang trọng phần lớn cho nhân viên ngoại giao đoàn thuê, ông bất chợt
chỉ tay qua phía bên phải: ‘Đây là nhà ông Ye ru den xky.’ Nghe tên đọc theo tiếng Ba Lan,
rôi cũng đoán được, đó là vị tướng làm tổng bí thư sau cùng của đảng cộng sản Ba Lan. Tôi
thắc mắc: ‘Ông tướng ấy bây giờ được dân Ba Lan kính trọng không?’ Ông tài xế trả lời: ‘Có
chứ!’
Tướng Wojciech Jaruzelski là người đã mời một luật sư thuộc Công Đoàn Đoàn Kết
Solidarnos đứng ra lập chính phủ vào cùng khoảng thời gian này, năm 1989. Đó là chính phủ
Ba Lan đầu tiên không thuộc đảng cộng sản, sau 40 năm nước Ba Lan bị cộng sản cai trị,
núp dưới bóng hồng quân Nga. Dân chúng Ba Lan, giới công nhân và những người trí thức
xứ này, cùng với Giáo hội công giáo Ba Lan đã thực hiện một cuộc cách mạng không đổ máu
để lật đổ chế độ cộng sản. Nhưng chính ông Jaruzelski đã chứng tỏ lòng yêu nước, đặt địa vị
của đất nước lên trên quyền lợi cá nhân, khi ông chấm dứt chế độ cộng sản một cách gọn và
nhẹ, vì chính ông đang cầm đầu guồng máy đảng. Ông xứng đáng được người Ba Lan kính
trọng.
Bây giờ là mùa Thu, tuyết chưa rơi trên đất Ba Lan. Nhưng trong những ngày như bây giờ,
17 năm trước, ở xứ Ba Lan là cảnh tuyết tan giá rã, khi đảng cộng sản Ba Lan tự rời bỏ
quyền hành. Mấy ngày hội nghị vừa qua, chúng tôi cảm thấy một không khí ‘tuyết tan giá rã’
đang diễn ra ở Việt Nam. Vi những người lao động ở nước ta đang đứng lên tranh đấu. Mà
giới truyền thông và người lãnh đạo xứ Ba Lan đã hỗ trợ việc đòi quyền tự do lập công đoàn
của người lao động Việt Nam, hỗ trợ tận tình. Trong khi đó chính quyền cộng sản ở Việt Nam
thì hoàn toàn lúng túng trước các biến cố đó. Tuyết tan là một hình ảnh đã sử dụng ở Nga từ
thế kỉ trước, để mô tả sự thay đổi trong chế độ cộng sản. Người Ba Lan đang chúc người
Việt Nam được thấy sự đổi đời, như trong hình ảnh tuyết tan.
Tôi tới Warszawa theo dõi cuộc hội thảo về quyền lao động ở Việt Nam, tôi biết trước sẽ có
nhiều người Việt từ Âu châu, Úc châu và Mĩ châu đến đây họp nhau trong mấy ngày bàn
cách hỗ trợ Công Đoàn Độc Lập Việt Nam trong việc tranh đấu cho người lao động. Nhưng
tôi không ngờ hội nghị này đã chiếm được cảm tình và đạt được sự ủng hộ của giới trí thức,
truyền thông, và giới lãnh đạo nước Ba Lan, đối với việc tranh đấu cho tự do dân chủ ở
nước ta, đến mức cao đến như vậy.
Phải nói rằng cả khối người Việt sống ở Ba Lan, nói chung, đã tạo nên những cảm tình này.
Tôi đã gặp những đồng bào sống ở đây qua hai lần thăm viếng, và thấy rõ tư cách đàng
hoàng đáng quí của đồng bào. Mấy chục ngàn người là du học sinh, nghiên cứu sinh, công
nhân xuất khẩu lao động, sau vài chục năm buôn bán làm ăn, nhiều khi không có đủ giấy tờ
hợp lệ, nhưng họ đã khiến cho người Ba Lan phải kính trọng người Việt. Nhiều vị trí thức
người Việt ở Ba Lan đã bỏ tất cả bằng cấp, học vị, các nghề chuyên môn của mình, nhiều
người xông vào làm thương mại, đã thành công. Nhiều người Việt đã thắng cả người gốc
Hoa trong việc kinh doanh. Nhưng họ cũng nhìn thấy nước Ba Lan tiến bộ, phồn thịnh và đời
sống tự do sau khi xóa bỏ chế độ cộng sản, cho nên họ vẫn không quên tranh đấu cho đồng
bào trong nước được hưởng những quyền tự do như họ đang hưởng ở Ba Lan. Một vị tiến sĩ
đang thành công trong thương trường tâm sự: ‘Mình phải giúp các anh em đang tranh đấu
cho dân chủ trong nước. Mình không làm gì thay thế họ được, chỉ có hỗ trợ được thôi. Nếu
anh chị em trong nước có thành công thì chưa chắc mình đã về nước làm việc, nhưng ngày
nào còn giúp được cho công cuộc tranh đấu trong nước thì mình phải giúp.
Ít có cuộc vận động tranh đấu nào phối hợp được những người Việt ở trong nước, ở nước
ngoài, cùng vận động giới lãnh đạo một quốc gia nơi có người Việt cư ngụ lại đạt được thành
công tốt đẹp như cuộc hội nghị vừa qua.
Hội nghị đã kết thúc khi thành lập một Ủy ban Bảo vệ người Lao động Việt Nam, với thành
phần lãnh đạo gồm nhiều vị ở Âu châu, Mĩ châu và Úc châu. Nhưng ngay trước khi ủy ban
này ra đời thì ban tổ chức gồm quí vị ở Ba Lan, ở Mĩ và ở Úc đã tạo được hai thành quả lớn:
Một là mời được nhiều nhà tranh đấu cho quyền lao động ở trong nước tham gia, dù sau đó
chỉ thuyết trình qua điện thoại; và thứ hai là được người Ba Lan ủng hộ hết mình.
Trước ngày hội nghị khai mạc, ông Bộ trưởng phủ Thủ tướng Adam Lipinski đã tiếp đón phái
đoàn những người từ xa tới tham dự. Ông Lipinski nói rằng chính phủ Ba Lan biết rõ có hàng
trăm cuộc đình công của công nhân Việt Nam vào trước Tết năm ngoái, và họ hiểu nhu cầu
tranh đấu của người lao động Việt Nam. Trong cuộc gặp gỡ này ông cũng báo tin cho mọi
người biết chính phủ cộng sản Việt Nam đã can thiệp, yêu cầu chính phủ Ba Lan ngăn cản
không cho hội nghị này họp. Ông đại sứ Việt Nam ở Warszawa viết thư thẳng cho tổng thống
Ba Lan đưa ra đòi hỏi đó. Chính vì thái độ khiếm nhã này nên giới lãnh đạo Ba Lan đã có
phản ứng ngược lại: họ tích cực ủng hộ những người tranh đấu cho dân chủ tự do ở Việt
Nam mạnh mẽ hơn. Vì nước Ba Lan đã trải qua những năm sống nhục nhã dưới chế độ cộng
sản rồi, và những người lãnh đạo hiện nay đều đã từng tranh đấu đói dân chủ tự do trong
thập niên 1980, cho nên họ biết các quyền tự do là cần thiết cho việc phát triển đất nước, và
đáng tôn quí như thế nào. Nhiều người trong ban tổ chức là công dân Ba Lan gốc Việt Nam,
giới lãnh đạo Ba Lan tôn trọng các quyền tự do của họ trong đó có quyền tự do hội họp, mặc
dù chính quyền Việt Nam muốn đàn áp họ.
Ông Marek Junek, chủ tịch quốc hội Ba Lan, đã kí cho phép hội nghị quyền lao động của Việt
Nam được họp ngay trong phòng họp của Thượng viện trong hai ngày cuối tuần. Đây là một
gian phòng dài mang vẻ đẹp quí phái, với những cột trụ tròn song song theo hai hàng dọc,
nên người Ba Lan thường gọi là ‘phòng các cột trụ’. Gian phòng này là nơi các nghị sĩ họp,
với những hàng ghế quanh hai dảy bàn dài xếp theo chiều dọc, theo lối ngồi trong nghị viện
Anh quốc, không xếp hàng ngang như trong rạp hát nhìn lên bàn chủ tọa, theo lối quốc hội
Mĩ. Không khí tôn nghiêm của phòng họp Thượng viện Ba Lan càng làm cho những người
tham dự cảm thấy có trách nhiệm lớn đối với những người đang tranh đấu cho dân chủ tự do
ở trong nước Việt Nam. Căn phòng cũng nổi tiếng gần đây vì là nơi các nghị sĩ, dân biểu Ba
Lan đã chất vấn những viên chức chánh phủ bị tố cáo là tham nhũng, những cuộc chất vấn
được các đài vô tuyến truyền hình ở Ba Lan chiếu cho dân chúng coi. Đến bao giờ dân Việt
Nam mới được coi những màn chất vấn quan chức tham nhũng công khai như vây?
Những du học sinh Việt Nam trước đây không ai không thuộc những câu thơ của Tố Hữu,
‘Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan - Đường bạch dương sương trắng nắng tràn…’ ca ngợi tình hữu
nghị giữa hai dân tộc và ca tụng cộng sản … Liên xô. Một điều sai lầm mà những người học
thơ ông Tố Hữu đã khám phá ra khi ở Ba Lan lâu ngày, là những lời ông Tố Hữu ca ngợi
Hồng quân bảo vệ dân Ba Lan, điều đó không đúng sự thật mà chắc chính ông tố Hữu cũng
bị lừa. Năm 1945 khi dân Ba Lan nổi lên chống Đức quốc xã đang chiếm đóng Warszawa,
theo lời kêu gọi của Nga, thì quân Nga để mặc cho quân quốc xã tàn sát người Ba Lan, cho
đến khi hai bên kiệt sức. Trong khi đó hồng quân Nga án binh bên ngoài thành phố, bên kia
sông Wistula. Khi quân Đức kiệt quệ thì hồng quân mới tiến vào, mang theo những người
cộng sản Ba Lan được Nga bảo trợ để lập chính phủ. Những người cộng sản Ba Lan không
theo Nga cũng bị tiêu diệt.
Hội nghị Quyền Lao động Việt Nam là một dịp biểu lộ tình hữu nghị có thật bộc phát giữa hai
dân tộc. Ông Tomasz Wojcik, phó chủ tịch Công đoàn Đoàn kết đã tới thuyết trình với hội
nghị, ông kể các kinh nghiệm tranh đấu của Công đoàn Solidarnos trong thời chế độ cộng
sản Ba Lan còn mạnh, cho đến khi chế độ lung lay. Ông Niroslaw Chojecki, chủ tịch Hội Tự
do Ngôn luận (SWS) đã kể chuyện những hoạt động của Ủy ban Bảo vệ Công nhân (KOR)
mà ông là một trong số những người sáng lập, trước khi Công đoàn Đoàn kết ra đời. Những
câu trả lời của ông làm nức lòng người tham dự. Ông Michal Drozdek, đại diện cho viện
Pederewski, là cố vấn bộ trưởng Bộ Lao động và Xã hội Ba Lan cũng đến góp ý kiến về
phương lược đấu tranh cho quyền lợi của người lao động. Chưa có một hội nghị nào của
người Việt Nam ở hải ngoại được chính quyền quốc gia sở tại ủng hộ hết mình như vậy!
Nhưng điều đáng quí hơn nữa là phản ứng của báo chí, truyền thông Ba Lan. Ngay buổi tối
hôm khai mạc hội nghị, ba đài vô tuyến truyền hình lớn nhất, công và tư, đều chiếu hình và
loan tin về hội nghị, lần lượt vào những lúc 6 giờ 30, 7 giờ và 7 giờ 30 là những lúc đông
khán giả coi nhất. Đài số 2 còn chiếu thêm phóng sự hình ảnh về Việt Nam và phỏng vấn
nhiều người. Đài số 3 chiếu cảnh phòng họp mênh mông của Thượng viện trong đó chỉ có
ba bốn chục người họp trông rất vắng, một phóng viên đã giải thích rằng nhiều người ở Việt
Nam được mời tham dự hội nghị nhưng bị chính quyền Hà nội ngăn cản vào phút chót không
được lên máy bay! Điều này có thật, đó là trường hợp luật sư Lê thị Công Nhân, đã bị ngăn
giữ 15 phút trước khi chuyến bay của bà cất cánh, sau khi bà đã làm mọi thủ tục lên máy bay
xong rồi. Một câu nói đã cho khán giả truyền hình thấy cả tình trạng người Việt Nam bị tước
đoạt tự do như thế nào. Hành động ngăn cản bà Lê thị Công Nhân cho thấy đảng cộng sản
Việt Nam đang ở tình trạng bối rối, ‘hết khôn dồn ra dại’.
Sáng ngày thứ hai, các tờ nhật báo đầu tuần cũng loan tin về hội nghị này. Tuy tin viết vắn
tắt nhưng báo Nasz Dziennik (Nhật báo của chúng ta) cũng cho độc giả biết lá thư can thiệp
bất nhã của sứ quán việt Nam ở Warszawa khiến cho ông chủ tịch quốc hội Ba Lan bất bình.
Vì người Ba Lan biết các quyền tự do quan trọng, chính họ tôn trọng quyền tự do của những
người Việt sống ở Ba Lan đang tổ chức hội nghị về quyền lao động. Phần lớn giới lãnh đạo
Ba Lan đều xuất phát từ một công đoàn độc lập giữa thời cộng sản còn đang thịnh, cho nên
họ càng nồng nhiệt ủng hộ những người lao động ở Việt Nam, đangbị một đảng cộng sản
còn tệ hơn cộng sản Ba Lan ngày xưa. Ngày xưa những người lãnh đạo đảng cộng sản Ba
Lan cũng sống trong nhà tập thể như các công nhân khác. Có lẽ vì vậy nên bây giờ nhười
dân vẫn còn kính trọng ông Jaruzelski được. Ngày nay thì giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam
đều là những tỉ phú và bọn tham nhũng thì có hàng trăm triệu mĩ kim, trong lúc công nhân
vẫn phải tranh đấu đòi quyền đi dùng nhà vệ sinh theo nhu cầu, những người tổ chức đình
công thì bị đàn áp!
Cảm tình của người Ba Lan đối với hội nghị của người Việt ở Warszawa rất sâu đậm. Ông
Trần ngọc Thành, trưởng ban tổ chức hội nghị, trước đây cũng là một đảng viên cộng sản,
ông đã từ bỏ đảng khi nhìn chung quanh thấy hệ thống tham nhũng không có cách nào chữa
được vì bản chất độc tài của đảng không cho phép họ tự dân chủ hóa.
Nếu không có các anh chị em trong ban tổ chức vận động những người lãnh đạo trong các
đảng phái, chính quyền cũng như trong ngành truyền thông Ba Lan, thì hội nghị không đạt
được thành công như đã thấy. Nhưng nếu không nhờ tiếng tốt của cả khối gần trăm ngàn
người Việt đang sống ở Ba Lan, thì các anh chị em trong ban tổ chức cũng khó chinh phục
được nhiệt tâm ủng hộ của người Ba Lan trong viec hỗ trợ anh chị em công nhân, lao động
ở nước nhà. Sau khi hội nghị đã kết thúc, lại nghe tin ở việt Nam đã ra đời một Hiệp hội Đoàn
kết công Nông Việt Nam! Đã đến lúc tuyết tan giá rã để người Việt Nam được thấy một mùa
xuân trở về!
NGÔ NHÂN DỤNG
_____________
Siết họng báo chí Việt Nam
Friday, December 01, 2006
Người làm báo ở Việt Nam phải rất can đảm và khôn khéo, vì lúc nào cũng đi dây, không
khéo thì té ngã. Té nguy hiểm, vì trên cổ người làm báo lúc nào cũng có những cái thòng
lọng, sẵn sàng siết cứng. Ông Nguyễn tấn Dũng mới ban ra một chỉ thị siết chặt thêm những
sợi dây thòng lọng trên cổ báo chí Việt Nam.
Cảnh đi dây nguy hiểm như thế nào, nhìn vào những tin tức về tham nhũng thì biết. Tham
nhũng tràn ngập khắp nước được chính các lãnh tụ cộng sản coi như quốc nạn, các nhà báo
thấy những tai hại do tham nhũng gây ra đều muốn loan tin. Nhưng phải đi dây coi tham
nhũng cỡ nào thì được loan tin, cỡ nào bị cấm. Nhưng điều tra tham nhũng là nhà báo làm
bổn phận đối với độc giả, với dân tộc, vì cả nước đều biết tham nhũng còn lộng hành thì kinh
tế không tiến lên được. Phải khen ngợi các đồng nghiệp của chúng tôi ở trong nước; hễ thấy
đảng hé một khe cửa nào ra là họ hăng hái xông vào. Trong phong trào chống tham nhũng,
báo chí đã đi săn tin, loan tin nhiều vụ động trời. Nếu không có các tờ báo thì làm sao dân
Việt Nam biết được có những người đem tiền của nhân dân đánh cá, tốn bạc triệu đô la?
Nhưng bây giờ đảng cộng sản đã run, muốn khóa miệng cho các nhà báo bớt hăng say đi,
tiêu biểu là trong vụ tiền.
Các nhà báo ở Sàigòn khám phá ra đồng tiền do Ngân hàng nhà nước phát hành in trên loại
giấy ‘polimer’ tồi, tiền in ra mực lem luốc, có đồng tiền in không đủ hình nhũ vàng, có đồng
tiền không đúng kích thước. Nhà báo lại nghe một đại biểu quốc hội nói con trai của ông
thống đốc ngân hàng là phó giám đốc của một công ti lớn liên quan đến việc in tiền. Rồi lại
có người bên trong Ngân hàng nhà nước cho biết đã can đừng in tiền bằng giấy ‘polimer’
nhưng không được xếp chấp thuận. Tất nhiên người làm báo có lương tâm phải nêu các sự
kiện đó lên cho công chúng biết. Ở tất cả các nước tự do trên thế giới đều làm công việc
thông tin như vậy. Báo nào tìm được tim mới và sớm nhất sẽ được độc giả tín nhiệm. Nhưng
ở Việt Nam thì khác. Sau khi loan báo các tin tức đó, tám tờ báo bị ‘xử phạt hành chánh’, và
ba tờ báo bị đóng cửa.
Bây giờ hãy coi ở một nước tự do trong một trường hợp tương tự người ta hành xử như thế
nào. Nếu bộ Tài chánh Mĩ in đồng đô la bằng giấy chất lượng kém cỏi thì báo nào tìm ra tin
đó sẽ loan tin ngay, giành loan tin sớm nhất. Nếu lại biết công ti in tiền là con cháu ông bộ
trưởng tài chánh, thì càng nên báo tin cho dân chúng biết thêm. Ví dụ, sau đó ông bộ trưởng
đưa ra bằng chứng nói rằng hợp đồng in tiền đã kí với công ti này từ mười năm trước khi ông
ấy nhận chức, thì sao? Họ có thể kiện các tờ báo ra tòa vì loan báo hai tin bên cạnh nhau,
khiến thanh danh của ông bộ trưởng bị thương tổn. Tòa án sẽ xử theo luật. Nhưng chắc
quan tòa sẽ không phạt các tờ báo về tội loan tin vội vàng trước khi kiểm chứng kĩ, làm ông
bộ trưởng mang tiếng oan uổng. Tại sao tòa không phạt? Vì có những đạo luật ở Mĩ bảo vệ
người làm báo và ‘quyền được nghe thông tin’ của người dân Mĩ.
Khi loan tin về hành động của những nhân vật có trách nhiệm lớn, như các bộ trưởng, hoặc
những người có danh tiếng như các cầu thủ nổi danh, nhà báo có thể loan tin trước khi kiểm
chứng, để công chúng biết tin sớm. Những người quyền thế hoặc danh tiếng, gọi là ‘nhân vật
của công luận’ (public figures) có ảnh hưởng đến quần chúng. Họ không thể bắt lỗi nhà báo
khi loan tin sai vì chưa kiểm chứng. Các nhà lập pháp Mĩ khi làm ra các đạo luật này đã cân
nhắc, thấy ‘quyền được thông tin nhanh chóng’ của công chúng quan trọng hơn quyền ‘bảo
vệ uy tín’ của các nhân vật công cộng. Nếu nhà báo ngay tình muốn làm tin nhanh mà vì thế
loan tin sai lầm, họ cải chính lại là đủ nếu có bằng cớ, chứ không thể bắt tội họ được, vì họ
phục vụ cho công luận. Việc cung cấp thông tin nhanh chóng cho công chúng biết là một
điều kiện cần thiết cho một xã hội sống tự do, lành mạnh và tiến bộ. Gây trở ngại cho việc
thông tin là có tội, vì làm cho cả xã hội chậm tiến.
Khi xử phạt các tờ báo ở trong nước vì họ loan tin về vụ in tiền ‘polimer’ bê bối, đảng Cộng
sản Việt Nam đã đặt quyền lợi của quan chức Ngân hàng nhà nước trên quyền lợi chung của
mọi người dân, quyền được thông tin. Họ đặt quyền lợi các đảng viên cộng sản lên trên
nhiệm vụ thông tin mà các đồng nghiệp của chúng tôi ở trong nước đang gánh vác.
Nếu muốn bênh vực các quan chức của họ, đảng Cộng sản Việt Nam phải có can đảm thưa
kiện các tờ báo loan tin trên ra tòa, coi họ có phạm luật nào hay không. Phải có can đảm cho
người làm báo tự biện hộ, đưa ra các nhân chứng đối chất, để coi các tin tức đã loan báo là
sai hay đúng. Nhưng không, đảng Cộng sản chỉ ‘xử phạt hành chánh’ và đóng cửa các báo.
Lệnh của đảng là lệnh tối hậu, không ai được bàn cải. Như thế thì những người làm báo khi
đi săn tin tức, biết tin nào nên loan báo, tin nào không nên in? Không lẽ thấy bất cứ một bản
tin nào ‘nhạy cảm’ có thể đụng tới các ‘xếp lớn’ đều phải trình lên xin phép các xếp trước khi
in? Mà biết xin phép xếp nào?
Không biết vị xếp nào có thể siết sợi dây thòng lọng treo trên cổ mình, vì nhiều xếp quá. Đó
là nổi khổ của người làm báo ở Việt Nam. Ông thủ tướng Nguyễn tấn Dũng mới ban ra một
chỉ thị vẽ ra đầy đủ danh sách các dây thòng lọng.
Chỉ thị số 37 ngày 29 tháng 11 năm 2006 (ghi rõ để nhớ một ngày tang tóc của báo chí nước
ta) ra lệnh cho đủ các thứ cơ quan của đảng và nhà nước làm những việc gọi là ‘rà soát,
thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, sắp xếp, kiện tòan, bố trí, xử lí nghiêm, xử lí sai phạm, xử lí kỉ
luật, hướng dẫn, lãnh đạo, động viên, thực hiện, tổ chức,’ công việc thông tin hàng ngày của
những người làm báo. Phải liệt kê tất cả những động từ trên đây, những chữ nghe đúng
giọng công an mật vụ như ‘rà soát, thanh tra, kiểm tra’ được bản chỉ thị lặp đi lặp lại nhiều
lần, để quí vị có thể tưởng tượng các người làm báo ở nước ta đang bị đe dọa như thế nào.
Ở một nước tự do, một ông tổng thống hay một ông thủ tướng không bao giờ phải ra chỉ thị
cho ai làm gì với các nhà báo hết. Quyền làm báo tự do là quyền đương nhiên, các nhà báo
cũng bình đẳng với các bà bán xôi hay cáa em bé đánh giày. Khi nào có ai phạm luật thì họ
bị truy tố hay thưa kiện như nhau cả. Người làm báo cũng như bà bán xôi ở khu Tiểu Saìgòn
không ai phải nghe ông George W. Bush hay ông Amold Schwarzenegger ra lệnh cho ai ‘rà
soát, thanh tra, chấn chỉnh,sắp xếp, kiện tòan, bố trí, xử lí, hướng dẫn, động viên, thực hiện,
tổ chức…’ công việc làm báo cả. Các ông các bà lớn cả rồi, làm báo hay bán xôi thì cũng
như mọi người thường dân khác, phải tôn trọng pháp luật. Ai mà đòi rà soát, xử lí, hướng
dẫn, động viên họ, họ chửi cho ngay.
Tại sao ông thủ tướng nhà nước Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa phải làm ra một cái chỉ
thị 37 như vậy? Mà tại sao các nhà báo đều im thin thít, coi như chuyện này đang xảy ra ở
bên Congo? Vì đảng của ông Dũng nắm độc quyền thông tin. Tất cả các tờ báo, báo in hay
mạng lưới, đài phát thanh, truyền hình, đều do đảng làm chủ. Không có ai được làm báo bên
ngoài vòng kiểm soát của đảng. Đảng mướn ai làm báo thì người đó trở thành nhà báo. Họ
làm công cho một ông chủ độc quyền, ông ấy cấp giấy hành nghề, ông chủ sa thải thì họ
không còn là nhà báo nữa. Chỉ thị 37 của ông Nguyễn tấn Dũng cũng giống như lệnh của
một ông giám đốc đồn điền cao su, bảo các cập rằng phải ‘rà soát, kiểm tra, động viên, tổ
chức, rà soát lần nữa, xử lí nghiêm, quản lí đội ngủ’ các công nhân cạo mủ, theo lệnh ông
chủ. Tất cả những nơi nhận được chỉ thị đó hiểu rằng họ phải thi hành, không được cãi. Ông
chủ được nêu tên trong chỉ thị là bộ Chính trị đảng Cộng sản.
Cứ nhìn vào danh sách những cơ quan mà ông Nguyễn tấn Dũng gởi chỉ thị thì thấy có hàng
ngàn con mắt phải chăm chú rà soát, hàng ngàn bàn tay đang nắm sẵn sàng còng số tám để
‘xử lí’ các nhà báo của chúng ta. Ông Dũng ban chỉ thị cho các bộ và cơ quan ngang bộ, cho
các hội đồng nhân dân các tỉnh và thành phố, cho văn phòng trung ương và các ban của
đảng Cộng sản, cho cơ quan trung ương của các đoàn thể, cho quốc hội, cho cả tòa án
nhân dân tối cao nữa!
Trực thuộc ông thủ tướng có bộ Văn hóa thông tin. Họ phải chủ trì việc ‘rà soát, kiểm tra,
động viên, tổ chức, xử lí…’ các nhà báo. Nhưng chưa hết, còn có ban Tư tưởng văn hóa
trung ương, các hội đồng nhân dân tỉnh và thành phố, có bộ tài chánh, có các cơ quan chủ
quản tức là đứng tên xuất bản báo, có những cơ quan báo chí ở địa phương, tất cả cùng lo
làm nhiệm vụ ‘rà soát, thanh tra, kiểm tra, chấn chỉnh, sắp xếp, kiện tòan, bố trí, hướng dẫn,
lãnh đạo, động viên, thực hiện, tổ chức, xử lí kỉ luật…’ các người làm báo; tức là trên cổ
người làm báo ở nước ta có hàng trăm cái dây thòng lọng, chỉ cần một sợi dây siết lại cũng
đủ nghẹt thở! Cho nên phải ca ngợi đức can đảm chịu đựng của người làm báo ở Việt Nam.
Ông Nguyễn tấn Dũng không phải là người dựng lên chế độ thòng lọng đó. Công trình này
đã được thống chế Stalin ở Liên Xô sáng chế ra, được Hồ chí Minh nhập cảng về dùng trong
nước Việt Nam, được các ông Trường Chinh, Lê Duẫn, Đỗ Mười… phát triển, kiện toàn, bổ
sung, mỗi ngày một chặt chẽ hơn. Tựu trung đảng cộng sản cầm quyền muốn kiểm soát cái
đầu của tất cả mọi người, cho trong đó chứa cái gì thì người dân biết cái đó. Có như vậy mới
cầm quyền được lâu, lâu được ngày nào hay ngày ấy. Ông thủ tướng chánh phủ chỉ nhắc lại
cho các nhà báo đừng quên những cái thòng lọng trên cổ họ. Hơn nữa, đảng ông cần đe
dọa những công dân đang quyết tâm thể hiện quyền tự do báo chí ghi trong hiến pháp, họ
đã làm các tờ báo Tự do Dân chủ (nhà văn Hoàng Tiến, luật sư Nguyễn văn Đài), báo Tự do
Ngôn luận (linh mục Chân Tín), v.v… Cho nên muốn chắc ăn, ông Nguyễn tấn Dũng còn lặp
lại một chủ trương cấm báo tư nhân, bằng một câu có thể coi là tư tưởng biện minh cho
chính sách độc quyền thông tin của đảng cộng sản. Chỉ thị 37 của ông Dũng viết: ‘Kiên quyết
không để tư nhân hóa báo chí dưới mọi hình thức và không để bất cứ tổ chức hoặc cá nhân
nào lợi dụng, chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước.’
Người làm báo hay không làm báo đều có thể đặt câu hỏi này: Có phải là báo chí hễ của tư
nhân thì bao giờ cũng ‘phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước’ hay không? Các
ông đọc thử hai ‘tờ báo tư nhân’ kể tên trên đây xem có ích lợi cho đất nước, cho người dân
biét bao nhiêu? Hãy nhìn ra ngoài, coi các quốc gia có báo chí tư nhân, so sánh với những
nước chỉ có báo của đảng và nhà nước, thì thấy sao? Những nước đầy rẫy những tờ báo,
mạng lưới, đài truyền hình tư nhân như Nhật Bản, Thụy Điển, Canada… cũng là những nước
kinh tế phát triển cao nhất và xã hội lành mạnh, chính quyền ít tham nhũng nhất. Còn những
nước chỉ có báo của đảng và nhà nước độc quyền như Miến Điện, Bắc Hàn, Cuba… cũng là
những nước nghèo nàn, lạc hậu và tham nhũng nhiều nhất. Thế thì tại sao lại cứ nhét vào
đầu người ta cái ý tưởng là làm báo tư nhân thì chỉ ‘phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích
đất nước’?
Từ nửa thế kỉ nay ở nước ta chỉ có một tổ chức độc quyền làm báo và chuyên môn ‘lợi dụng,
chi phối báo chí để phục vụ lợi ích riêng, gây tổn hại lợi ích đất nước’, tổ chức đó chính là
đảng Cộng sản Việt Nam. Xin bà con trong nước và các bạn đồng nghiệp của chúng tôi hãy
nghĩ kĩ xem có đúng như vậy hay không?
NGÔ NHÂN DỤNG
_________________
Đại học Canada
phổ biến chương trình
giúp vượt tường lửa Internet
TORONTO, Canada – 2 Tháng Chạp (TH)
Các nhà khảo cứu ở một đại học Canada đã hoàn thành một chương trình điện toán để giúp
những người ở các nước đang bị chính quyền dựng tường lửa để ngăn chận họ vào các
trang nhà hay các diễn đàn thông tin, báo chí điện tử mà nhà nước độc tài đảng trị liệt vào
loại ‘phản động’.
Bản tin của hảng thông tấn Reuters cho hay như vậy khi nói rằng chương trình điện toán có
tên là ‘Psiphon’ được các nhà nghiên cứu ở đại học Toronto hoàn thành. Theo họ, những
người dùng internet ở các nước không bị tường lửa ngăn chận có thể mở một điạ chỉ sử
dụng (set up an account) cho một người ở nước bị tường lửa ngăn chận. Nhờ vào địa chỉ sử
dụng (user’s account) này, từ cái cổng chuyển tiếp, có thể vào bất cứ địa chỉ nào khác mà
không còn bị giới hạn.
‘Các cộng đồng mà chúng tôi giúp họ liên lạc được với nhau, có quyền chính đáng để hành
sử nhân quyền của họ ngay trong sự kiềm tỏa của chế độ.’ Don Deibert, giám đốc Phòng Thí
nghiệm của Công dân (Citizen Lab) tại đại học Toronto phát biểu. Cơ quan này khảo cứu sự
tương tác (interaction) giữa các vấn đề nhân quyền, kĩ thuật và an ninh.
Ông nhìn nhận rằng chương trình ‘Psiphon’ có thể trở thành cái gai đối với nhiều chính
quyền mà cơ quan trên nghiên cứu. Những chính quyền này đã theo dõi (mở và đọc trộm),
giới hạn và kiểm soát bất cứ những gì mà người dân đọc, lấy xuống, lưu trữ tài liệu, bài viết,
tin tức, thư từ trao đổi qua internet với nhiều mức độ tinh vi khác nhau.
Các tổ chức nhân quyền quốc tế, nhiều chính phủ và quốc hội trên thế giới chỉ trích Việt
Nam, Trung quốc, Cuba, Bắc hàn, Miến điện, Saudi Arabia, Synia, Iran, Egypt đã thiết lập
tường lửa để ngăn chận dân chúng truy cập các địa chỉ ‘nhạy cảm’. Nhà cầm quyền Việt Nam
gọi đó là những địa chỉ, trang nhà ‘phản động’ hay ‘chống chính quyền cộng sản Việt Nam’.
Những gì phơi bày tin tức, phổ biến bài viết, hình ảnh về các cuộc tranh đấu đòi tự do tôn
giáo, dân chủ, khiếu kiện ở trong nước đều bị coi là phản động hay chống chế độ.
‘Có một sự hiểu lầm trên thế giới là mạng lưới internet giúp người ta được tự do.’ Minky
Worden, giám đốc truyền thông của tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Right Watch)
phát biểu. ‘Hàng chục ngàn người đã được nhà cầm quyền Trung cộng sử dụng để thực
hiện một hệ thống kiểm duyệt chính trị trên internet.’ Các công ti quốc doanh cung cấp dịch
vụ internet không những đã được lệnh phải thiết lập tường lửa, mà còn phải báo cáo thường
xuyên về sự theo dõi công dân. Các cửa hàng đại lí phục vụ internet bị bắt buộc lập danh
sách để theo dõi tất cả các khách hàng để báo cáo cho công an.
Ông Deibert cho hay chương trình Psiphon hoạt động như thế này: Một người dùng internet
ở Canada hay ở Mĩ ghi danh sử dụng (set up user’s name) cho người (thí dụ ở Việt Nam hay
Trung quốc) với tên của người đó, kèm theo mật khẩu (password). Khi vào được ‘cổng
chuyển tiếp’ này, người sử dụng có thể tự do ‘bơi’ đi bất cứ đâu.
Theo các tác giả thiết lập Psiphon, tên của cả hai người (ở ngoại quốc cũng như ở Việt Nam)
đều được ngụy trang bảo mật (encrypted) nên chính quyền cộng sản sẽ khó truy ra ai là
người sử dụng.
Chương trình Psiphon bắt đầu phổ biến tự do và miễn phí trên internet từ ngày 1 tháng Chạp
2006 ở: http://psiphon.civisec.org
Source: Người Việt
_________________