Mái chùa xưa


VÕ HỒNG





Làng tôi có ba ấp, mỗi ấp có một ngôi chùa. Tôi ở ấp Quảng Đức, lên năm tuổi đã biết tên
chùa là Châu Lâm, đã thấy ông thầy chùa đầu tiên trong đời, thỉnh thoảng đi về trên con
đường xuyên qua xóm. Ba tôi dặn:

- Không được kêu là ‘Ông thầy chùa’ nghe chưa. Hỗn!

Nhưng lại không bày tôi một cách kêu khác. Trong câu chuyện, khi nhắc tới ông thầy… đó thì
ba tôi dùng ba chữ ‘Thầy Châu Lâm’. Giọng kín cẩn có pha chút thân tình, Những người trong
xóm khi nhắc đến tên thầy đều có chung một giọng như thế.

Đi trên đường, thầy cứ nhìn thẳng, nét mặt dịu dàng không vui không buồn. Tôi chịu không
đoán được tuổi. Tóc và râu là hai bộ phận để căn cứ mà định tuổi thì thầy đều không có. Mặt
lại không nếp nhăn. Miệng lại không cười. Đi giữa chúng tôi mà không gây nên tiếng động.

Chùa Châu Lâm ở cách biệt nơi chân núi, xa xóm cở cây số rưỡi nhưng đối với tuổi ấu thơ của
tôi như vậy đã là xa hun hút. Bởi vì muốn đi tới chùa chúng tôi phải đi bọc vòng chân núi, đi
theo một con đường quanh co có nhiều bụi gai bàn chải mọc đầy. Cảnh vật khác hẵn với cảnh
vật trên xóm, tưởng như là hai thế giới riêng biệt. Bụi cây âm u rất nhiều. Chim hót tứ phía. Rắn
mối và kì nhông bò rèn rẹt mỗi lần có bước chân tới gần. Ở trên miếng gai bàn chải chơm
chởm, ở trên cành cây mọc chìa ra đường, thỉnh thoảng có con kì đà nằm yên lặng nghếch cái
đầu màu đỏ lên nhìn. Những đoạn dường quanh co vội vã. Không dám chạy thẳng một mạch,
không muốn làm phiền lòng những bờ duối bờ sậy, không muốn động chạm đến cả sự quây
quẩn yên lặng và khiêm tốn của lũ cỏ gấu, con đường nhường nhịn, len lỏi né tránh.

Ngôi chùa trông thấy trước mắt nhưng phải đi vòng qua những thửa ruộng thấp, đi lượn qua
mấy ngôi tháp cao, đi bọc theo khu vườn nhỏ rồi mới tới cửa Tam quan. Đá lởm chởm dưới
chân, đá chất gồ ghề làm thành bờ dậu. Tất cả là công trình của bàn tay cần cù, là chứng tích
của sự nghèo khó. Chắc thầy trụ trì và chú điệu phải tự tay vần đá, kê chồng lên nhau, chèn
ghép vào nhau trong những buổi mai còn đầy sương, trong những buổi chiều có tiếng sơn ca
lanh lảnh hay trong đêm trăng thơm mùi hoa dại. Không có dấu vết của chiếc bay thợ nề trên
những kẻ đá, nơi dung thân của lũ rắn mối, cắc kè.

Ấp tôi dân ít lại nghèo nên chua không thể nào giàu được. Hình như tài sản của chùa chỉ có
hai miếng đất thô, và để có lúa ăn, nhà chùa phải làm rẽ bảy gia gống ruộng. Bởi hoa lợi ít ỏi
nên thầy trụ trì chỉ nuôi nổi một đồ đệ.

Người đồ đệ này là bạn chơi cùng lứa với chú Ba tôi nên chú tôi cứ tha hồ xưng hô bằng
‘thằng’, bằng ‘mày’ trong khi những đạo hữu cao tuổi gọi bằng ‘chú điệu’. Tôi thì bắt chước
theo lũ nhỏ, kêu bằng ‘ông điệu’ dù ông chỉ mới khoảng 16, 17 tuổi. Ông điệu lo sạ lúa, làm cỏ,
tát nước ruộng. Một hôm bị bạn bè rủ rê, trong đó có chú Ba tôi, hái trộm luôn một trái dưa hấu
của đám rẫy cạnh vườn chùa rồi bạch ra ăn với nhau. Thầy trụ trì bắt gặp. Thầy lùa cả bọn vô
chùa để tra hỏi, sau đó thầy sai ông điệu ra liêu lấy cái roi mây. Ông bước đi rất chậm, tưởng
như bàn chân đang bận suy nghĩ. Thầy bình tĩnh đợi. Khi cầm roi trên tay, thầy bắt ông nằm
xuống.

Trót! Trót! Trót! Ông điệu lăn qua lăn lại, khóc ồ lên, vừa ‘Lạy thầy con lỡ dại! Lạy thầy con xin
chừa!’ Sau năm roi, thầy ra lịnh cho ngồi dậy. Ông điệu vâng lệnh ngồi dậy nhưng không bước
ra hiên lấy gáo múc nước rửa mặt như tôi tưởng. Mà ông lại đứng ngay ngắn trước mặt thầy
rồi bỗng ông quì xuống lạy luôn ba lạy. tôi ngạc nhiên hết đổi. Ở nhà, mỗi lần bị cha tôi bắt
nằm xuống đánh xong cho ngồi dậy là tôi vừa khóc hu hu vừa ra hiên múc nước rửa mặt. Lần
nào cũng vậy, y như một nghi thức không thay đổi. Lần đầu tiên thấy một người bị đánh lạy tạ
người vừa đánh mình, lòng tôi chợt nảy sinh một cảm giác lạ. Một sự kính trọng bồi hồi. Nhưng
chưa hết. Thầy trụ trì ung dung nói:

- Đi vô làm lễ sám hối!

Ông điệu ‘dạ’, lại kẹt cửa lấy cái áo choàng màu xám choàng lên người. Ông châm một nén
hương rồi tẻ ra cắm ở mấy bàn thờ Phật. Ông lại cầm dùi đánh nhiều hồi vào cái trống sấm.
Rồi sau đó ông quì tụng niệm ê a một lát lâu. Lúc nhỏ khi chưa đi học, tôi hay theo chú ba tôi
đi chơi lang thang nên cái cảnh ông điệu bị đòn, tôi chứng kiến từ đầu đến cuối. Tôi giữ một ấn
tượng tốt về nhà chùa là bởi sự kiện đó. Có lần chú tôi lén chỉ cho tôi coi  một cái chum đất
nung lên men đặt ở sân chùa.

Chú nói:

- Cái chum tương đó.

Tôi hỏi:

- Sao đem để ngoài nắng vậy?

- Đem dang cho tương nó ngon. Mày tưởng chùa gọt vỏ bí bỏ bầu rồi bưng đổ đổ đó hả?
Không có. Đem bỏ vô chum tương, để lâu nó thành tương.

Chú tôi không có óc khoa học, hay tin lời người khác mà không chịu phối kiểm với thực tế,
thỉnh thoảng lại hay nói ẩu nên tôi không biết sự thực có phải đó là một cách làm tương đơn
giản hay không. Nhưng cho dầu không biết chắc, tôi cũng có thể quả quyết rằng cách làm
tương ở chùa này phải là cách đơn giản, thô sơ hơn hết. Cứ nhìn lối sống của thầy trụ trì và
của ông điệu là biết ngay. Ngoại trừ cái áo nâu dài mặc đi ra đường là tươm tất, còn khi ở chùa
thì thầy mặc áo vải thô vạt hồ màu xám có nhiều mụn vá nơi vai hoặc nơi cùi chỏ. Cái vạt áo
nhọn làm cho dáng thầy từ mảnh mai trở nên gầy gò. Thuốc lá thầy hút là thứ thuốc tự tay thầy
trồng. Vài chục cây thuốc mọc ở một vạt đất nhỏ đầy sỏi đá nơi cửa sổ nhà Đông, có những lá
già gần gốc đã được tước đi. Đi ra đường thì thầy mang guốc sơn, còn ở chùa thì mang guốc
băng gỗ cây sầu đông tự thầy đẽo lấy. Quai guốc là một mảnh da trâu cứng.

Một cảnh chùa nghèo nàn như vậy không thể ban phát lợi lộc vật chất cho ai hết, nhưng nhờ
đó mà nó trở nên thân mật với mọi người. Ai muốn ghé chơi chùa cũng được, cửa Tam quan
gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp vì chẳng có chi
đáng để trộm cắp. Có mấy bụi chuối mọc đúng ở mái chùa là hay có trái hườm trên những
buồng chuối nặng. Lũ chim chào mào tọc mạch bao giờ cũng thấy trước và lén mổ trộm. Người
từ xóm lại phải đi băng qua một quãng đồng trống, ai công đâu xách một buồng chuối trên tay.
Quả rằng chỉ có lũ chim là chuyên môn ăn trộm quả chùa. Mấy trái mãng cầu chín quên hái
ngoài vườn, chùm ớt đỏ ở vạt nước rủ rê lũ chim đội mũ, chim chìa vôi tụ hội lại vừa ăn vùa nói
chuyện rinh rả. Bụi thơm, cây mít ở sau lưng chùa thì có lũ sóc ranh mãnh dòm chừng.

Người tìm đến chùa để xin nghỉ mát hay để tìm nước uống. Đó là trường hợp những người cấy
lúa, cuốc cỏ mía ở những đám ruộng đám thổ gần đó. Buổi trưa nghỉ tay, về xóm thì xa, ngồi
dưới gốc cây thì hanh nắng, sẵn có chùa gần xin vào nghỉ ở chái sau. Nước uống thì sẵn ở
chum, dùng bao nhiêu cũng có, tha hồ. Tuy nhiên, dùng chỉ hết mươi gáo thì họ bảo nhau ra
giếng xách châm vào cho đầy lu, đỡ tay chú điệu một bửa. Hôm nào mo cơm gói theo mà thiếu
đồ ăn thì chú điệu múc cho chén nước.

Mấy đứa chăn bò, lũ nhỏ hái củi hay ghé xuống chùa xin muối. Bò lùa thả ăn ở chân núi còn
chúng thì tụ hội lại đánh đáo đánh trống hoặc sục sạo vào các bụi cây để hái ổi, hái sim, múi
dẻ, nhãn chày… Khi không nhằm mùa trái cây thì bứt đỡ là dang lá me rồi xuống chùa xin muối
lên chấm ăn. Bước qua vại nước thấy có ớt chín thì lén hái một hai trái để lên giã chung với
muối. Nếu thầy trụ trì hay chú điệu bắt gặp thì cũng chỉ ‘Ê! Ê!’ vài tiếng và người phạm lỗi rút
tay ra bẽn lẽn cười rồi đi luôn. Không ai nỡ nghĩ rằng đó là một sự ăn cắp. Cái không khí tịch
mịch bao dung nuôi dưỡng hỉ xả.

Lên bảy tuổi tôi đi học ở trường Thiên Đức, cách nhà một con đò và hai cây số đường bộ.
trường nằm ở trên chỏm núi. Do mấy người bạn lớn dẫn dắt, một hôm đang giữa giờ học tôi
cũng ‘xin phép thầy cho ra ngoài’. Thật tình tôi không hiểu ‘đi ra ngoài’ là đi đâu mà cứ thấy
mấy chị lớn hay giơ ngón tay lên xin. Gạn hỏi mãi một chị tên là Khoan,- sau này lên lớp tư tôi
cứ kêu là chị Lưu Khoan bởi ngẫu nhiên tôi đọc được trong một cuốn sách tập đọc cũ của cha
tôi kể sự tích ông Lưu Khoan có người thị nữ bưng bát cháo lên hầu, lỡ tay đánh đổ cháo ra
áo chầu v.v…, - giảng cho tôi nghe:

-Đi ra bụi duối ngồi mát.

Tôi nói:

- Ngồi trong lớp đâu có nực. Mát buồn ngủ luôn.

- Nhưng đâu bằng ở ngoài núi. Sẵn trái duối chín hái ăn luôn.

- Nhằm trúng cây duối ngọt thì trái duối chín ăn mhư đường phèn, - tôi đang nghỉ tiếp. Nhằm
cây duối trái đắng thì bỏ đi, lựa cho được cây duối ngọt. Kiến vàng đít bự ưa trái duối lắm, bò
từng đàn…

- Đôi hồi chạy tuột dốc xuống luôn chùa Cảnh Phước, - chị Khoan tiếp. Xin vài trái chanh chấm
ăn với muối.

Thế là tôi lập tâm muốn đi hoang một bữa. Tôi đợi giờ chữ Nho của thầy Lê Ngu Tân. Thầy
hiền, không đứa nào sợ. Chị Khoan đợi tôi ở ngoài cửa lớp. Thấy tôi ra, chị khen liền:

- Được đó. Mày phải dạn lên một chút. Thôi bữa nay khỏi ăn duối đi. Tao cho mày xuống chùa
Cảnh Phước.

Không cần hỏi tôi có đồng ý không, chị cứ xổ dốc luôn. Trời ơi! Triền dốc thì đứng mà chị cứ
chạy băng ào, chạy quá đà phải ôm luôn một nhánh cây mới hãm bớt tốc lực. Nhiều lần như
vậy. Cuối cùng chúng tôi lọt vào sân chùa.

Kèm với sự bỡ ngỡ, cái cảm tưởng đầu tiên của tôi là chùa Cảnh Phước giàu hơn chùa Châu
Lâm. Có nhiều màu trắng của vôi mới nơi trụ hiên, nơi vách. Có sự bằng phẳng, rộng rãi nơi
sân, các lối đi được viền bằng cỏ tóc tiên. Hoa được trồng thành bồn. Có một dãy những hồ
lớn đắp bằng xi măng trong thả bèo hay trồng sen. Vườn chùa kế tiếp theo sân. Một cây sàn
vọt nước cất tiếng kẽo kẹt. Nhiều cây chanh lá xanh um đứng kề bên giếng. Khế, ổi, bụi môn,
bạc hà, cây bưởi, vạt bắp, vạt củ mì, và xa hơn, những cây cao có hoa màu đỏ đứng cạnh
những ngôi tháp. Nhiều lần sau tôi lại có dịp xổ dốc để xuống thăm chùa Cảnh Phước và mỗi
lần như vậy giúp tôi khám phá thêm một nét phong lưu của chùa. Thầy trụ trì vui vẻ nhìn chúng
tôi, ngắt cho những trái chanh vừa vò đầu âu yếm. Những lúc ấy tôi bỗng nhớ đến khuôn mặt
trầm ngâm của thầy Châu Lâm và không hiểu tại sao tôi chợt thấy thương thầy. tôi thương
ngôi chùa nghèo, có nhiều màu xám nơi cửa nơi vách, có một cái sân không đủ sức để bằng
phẳng và vuông vức, có nhiều sỏi đá đến nỗi cây khế cũng không trỗ được màu xanh.

Chùa Châu Lâm có một cái tên nôm là ‘chùa Đống Ma’. Tên đó dành cho những người bình
dân trong xóm gọi. Chùa Cảnh Phước không có tên nôm. Trong tuổi ấu thơ, tôi đã nghĩ rằng
đó là một sự thiệt thòi của kẻ giàu. Lớn lên, tôi biết rằng có nhiều ngôi chùa vừa giàu có vừa
có đủ hai tên. Như chùa Đá Trắng với tên ‘Sắc Tứ Từ Quang Tự’, chùa Tổ với tên là ‘Sắc Tứ
Bát Nhã Tự’. ‘Sắc tứ’ tức là được nhà vua công nhận và ban cho cái tên. Như là những con
người ở ngoài đời vừa giàu vừa sang. Ở Phong Thăng có một ngôi chùa giàu mà không được
‘sắc tứ’, nhưng có tên là chùa Bảo Sơn. Bảo Sơn, Linh Sơn, Phước Sơn… những cái tên khi
đọc lên có âm dụng đến cả âm ba, món trang sức không đòi hỏi phải có nhiều tiền mới sắm
được.

Có một món quà chùa sẵn lòng tặng cho ai cần: đó là những cành bông điệp. Không biết tục lệ
xuất phát từ đâu mà cả làng tôi mỗi lần có việc cúng kị là chỉ chăm chăm đi hái bông điệp để
cắm trên bàn thờ. Nếu nhằm ngày Tết tháng giêng thì có thể cắm thêm bông vạn thọ, bông
trang đỏ. Những loại khác như cúc, thược, huệ, hồng… dầu đẹp nhưng là món cắm chơi giữa
người trần với nhau. Tục lệ đó chắc đã nhắm một mục đích kinh tế rõ rệt: cây bông điệp trồng
một lần mà ra bông cả vài chục năm bởi nó là thân mộc lớn cỡ bằng cây táo nhơn; hoa có hai
loại, màu đỏ và màu vàng mọc thành chùm nên chỉ cần bẻ ba nhánh nhỏ là đủ ghép thành một
bình. Chùa trồng ba, bốn cây ở trên lối đi và như vậy là đủ cho nhu cầu của một xóm.

Sự liên hệ giữa dân xóm và nhà chùa là một liên hệ tinh thần, dầu không sâu đậm thiết tha
nhưng mà lúc nào cũng sẵn sàng hiện diện. Khi có niềm đau nỗi buồn quá sức giải quyết của
người thì về chùa để tìm sự an ủi và hi vọng. Nhà có tang mời thầy tụng kinh siêu độ, nhà có
người đau ốm trầm kha mời thầy tụng kinh cầu an. Mười năm một lần, ban trị sự ấp tổ chức
đàn tràng mời thầy hành lễ, làm chay múa lục cúng suốt ba ngày đêm để cầu an cho dân
chúng cả ấp. Người lớn trẻ con, thanh niên thiếu nữ dập dìu tới dự, áo quần tươm tất, mặt mày
tươi vui, khiến tôi nghĩ rằng đây vừa là lễ Tạ Ơn cho mười năm đã qua vừa là lễ Cầu An cho
mười năm sẽ tới. Cỗ bàn dọn ra, ai có mặt cũng được mời ngồi và cầm đủa thọ trai, không
phân biệt kẻ lớn người nhỏ, kẻ sang người hèn. Y như trong những ngày lễ lớn làm chay ở
chùa.

Trong những ngày đó, người có cầm tới bao đèn bao nhang hay buồng cau nãi chuối, người
có góp phần công đức năm cắc một đồng hay gói trà phong bánh đều được mời dự bữa cơm
chay ngang hàng với kẻ chỉ tới tò mò đứng coi. Có người quá nghèo thì tới lãnh phần gọt vỏ bí
vỏ khoai hay vo gạo đãi đậu. Có người tối mặt tối mày trong bếp.

Một lần tôi theo ông tôi tới dự lễ Rằm tháng Bảy ở chùa. Thầy trụ trì ngồi nói chuyện bình thản
với khách trong khi các người nấu cỗ dọn bàn cứ tự động lo liệu lấy. Họ tự sai phái, phân công
làm như chuyện chùa là chuyện của nhà họ. Những tiếng kêu gọi, hỏi han, dặn dò đan chéo
vào nhau:

-Đưa đây chai dầu phộng!

- Ra vác thêm bó củi, em. Lãy bó gộc ở chỗ gốc táo đó.

- Lu gạo để ở đâu? Chớ tin này vét hết rồi.

- Hỏi chú điệu. Chú điệu ơi! Ủa, mà cứ xúc thúng gạo lúa Gòn của cô Năm mới đội tới đó cũng
được mà.

- Bí sáp nầy chắc lấy giống ở Đờ-răng (Đơn Dương). Trái to mà dài như con heo.

Ở trong chùa Tổ, nấu chay có la-ghim Đờ-răng và Trà Lạch (Đà-lạt) chở xuống. Phải, chùa Tổ
là chùa nổi tiếng nhất của cả tỉnh, có nhiều đạo hữu giàu ở các tỉnh khác cũng xin qui y làm đệ
tử. Một số các đệ tử gốc ở Dran, Đà-lạt. Mỗi kì lễ lớn, họ gởi theo xe hàng xuống từng giỏ cần
xé to những bắp su, cà rốt, khoai tây, đậu Hòa-lan, củ cải… Người ta tả rằng, -có lẽ phần lớn
theo tưởng tượng- các bà đệ tử đều mập mạp, áo dài kim tuyến lóng lánh và vàng đeo đầy cổ
tay, ngón đeo đầy cà rá hột xoàn. Khi ngồi nghĩ đến một cỗ chay thịnh soạn ở chùa Tổ, các bà
Lí, bà Hương chắc có ước ao được thưởng thức coi nó ngon ra làm sao nhưng tôi tin rằng
đồng thời họ lại cũng đang yêu thương thêm ngôi chùa nghèo của họ và cuộc đời tầm thường
của chính họ. Nghèo nàn là một sợi dây thân ái ràng buộc mọi người. Khi có đồng tiền dự vào
thì đồng tiền gây mầm chia rẽ.

Không khí của một bữa cỗ chay khác xa với một bữa cỗ mặn. Không có sự náo nức của người
dự lễ cỗ. Không ai tham ăn, háu ăn, mọi người đều hườn đãi mời mọc nhau. Chỉ vì món chay
của nhà quê hồi đó không có những mĩ vị đam mê. Xào thì đậu đũa xào dầu, mướp xào dầu,
khoai lang xào dầu. Đại khái là một món rau trái được lăn qua trong dầu phộng rồi nằm trong
chảo đậy vung hầm hơi cho chín. Món canh thì nhờ đậu phộng mà ngọt, khác nhau chỉ có bát
này là bí đỏ, bát kia là bầu, bát nọ là rau cải.

Trong bữa ăn có bày luôn cả các món tráng miệng. Và mười lần như một, thế nào cũng có
người đưa ra ý kiến:

- Ăn chay thì gắp bỏ nhiều món vô chung một chén rồi ăn mới ngon.

Lần nào dự bữa ăn chay tôi cũng có ý đợi chờ xem ai sẽ đầu tiên nói lên câu đó. Ở nhà tôi thì
y như cô Bảy tôi lãnh phần nói trước. Và chú Ba tôi thực hành liền. Chú lấy một bát canh, bẻ
bánh tráng nướng bỏ vô, gắp đậu xào khoai xào, nộm đu đủ bỏ vô và chú chuẩn bị biểu diễn.
Cô tôi đẩy diã cốm và bánh in lại gần (ở miền Trung, cốm là thứ bánh làm bằng bột nếp rang
trộn đường đóng khuôn):

- Bỏ luôn miếng cốm vô!

Chú Ba cười liền:

- Phải đó, như vậy mới đúng điệu ăn chay!

Khi tôi lớn lên đi đây đi đó, tôi được dịp ghé thăm nhiều ngôi chùa sang trọng, được dự nhiều
bữa tiệc chay thịnh soạn ngon lành. Mỗi lần như vậy là lòng tôi lại bùi ngùi nhớ đến ngôi chùa
quê làng tôi, đến những bữa cỗ chay thanh đạm nghèo nàn, thanh đạm đến mức ‘có thể trộn
nhiều món ăn vào nhau’ mà không sợ mất hương vị. Bởi lẽ, than ôi, có hương vị gì đâu mà gọi
là mất!

Những kỉ niệm ngày thơ ấu dầu có thời gian cách trở nhưng bây giờ đây mỗi lần nhớ lại là tôi
thấy hiện lên rõ ràng trước mặt. Tôi có thể nghe cả giọng nói với âm thanh riêng biệt của từng
người. Bà Bộ, buôn trầu cau ở chợ Chiều, mỗi lần lễ xong tới mục thiêu vàng là khệ nệ lãnh
bưng cái nia lớn trên xếp đầy những tờ giấy tiền, thanh y, giấy vàng bạc ra trước sân chùa. Bà
châm lửa đốt từng xấp rồi chắp tay nhìn ngọn lửa một cách cung kính. Những tàn tro giấy vỡ
ra, bị hơi nóng cuốn hút bay lên, lượn lững lờ. Bà xuýt xoa vái bốn phía rồi nói với những bà
con đứnh nhìn chung quanh:

- Các Đẳng tới nhận áo và vàng bạc đó. Các Ngài đứng ở trên cao.

Không ai tỏ bày ý kiến. Bà đành nói tiếp, như để thuyết phục một kẻ hoài nghi, tưởng tượng
nào đó, cái lí luận bà đã chuẩn bị sẵn ở nhà, có lẽ đã nói nhiều lần ở nhiều nơi rồi:

- Chớ trời đâu có gió mà tàn tro cứ nhắm trên cao mà bay?

Mọi người vội vã nghiêm chỉnh và kính cẩn. Cả cái không gian âm u của buổi chiều nơi sân
chùa như đầy những vong linh, những cô hồn tụ hội. Bà Bộ thật xứng đáng được các Đẳng
ban thưởng. Tôi chưa thấy một khuôn mặt nào rạng rỡ như khuôn mặt bà lúc ấy.

Trải qua cuộc chiến dằn co, ấp Quảng Đức của tôi đã thành bãi chiến trường. Đồng bào bỏ
nhà cửa, ruộng vườn lũ lượt gồng gánh ra đi. Ngôi chùa xưa chắc còn tịch liêu tàn phế hơn,
những con chim chào mào, chìa vôi chắc cứ ngang nhiên làm tổ ngay ở chái sau, hiên trước!


                                            __________________




Đi con đường khác

VÕ HỒNG





- Bác gắng tăng thêm tốc độ.

- Dạ.

- Gắng tăng thêm nữa!

- Dạ.

Người tài xế bậm môi, nhíu sát hai lông mày vào nhau. Những nếp nhăn hằn lên, khổ sở. Tôi
chong mắt nhìn ra trước xe. Những cánh đồng trải rộng, trải dài, lác đác có thôn ấp nấp sau
những lũy tre. Chúng nằm bất động, cản ngăn tầm mắt khiến tôi có cảm tưởng là xe vẫn còn
chạy chậm. Tôi muốn giục thêm bác tài nhưng tự nhiên thấy mình khiếm nhã. Tôi đã giục nhiều
lần rồi. Giục thêm, có khác nào bảo rằng bác ta thiếu thiện chí hay kém tài năng.

Tôi ngồi chồm ra trước, làm như tư thế đó giúp cho xe chạy mau hơn. Tôi rung những ngón tay
tưởng như điều đó làm cho chiếc xe cũng sốt ruột mà gắng chạy nhanh hơn. Rặng núi thấp có
những rẫy sắn, rẫy đậu nằm bắc thang trên sườn, từ nãy giờ vẫn chưa vượt qua. Tôi muốn bất
chấp xã giao lên tiếng giục bác tài chạy mau hơn nữa, nhưng chợt nhìn xuống cây kim đỏ chỉ
tốc độ tôi phát hoảng: 110 cây số giờ. Đó là tốc độ nguy hiểm đối với đoạn đường này, là đùa
với thần chết và đi kề cái chết.

Tôi lẩm nhẩm nghĩ: ‘Đằng nào cũng trễ rồi! Hôm nay đã 16 tháng Chín. Xe không thể chạy về
đêm. Trưa ngày 17 là hết! Là xong hết!...’ Tôi cảm thấy nóng nơi khoé mắt. Tôi cảm thấy nước
mắt đang tụ tập về điểm lệ nhưng tôi cố ngăn không cho chúng họp thành giọt. Tôi cắn răng,
cầm chắc sự can đảm trong bàn tay trái nắm chặt.

Chợt xe phanh gấp một tiếng két nhức tai. Tiếng bánh xe lết trên mặt đường. Người tôi nhảy
chồm lên, ngã nhào tới trước, Nhưng tôi hoàn toàn không chút hoảng sợ. Tôi bình tĩnh đến
mức độ lạ lùng. Tôi sửa lại tư thế ngồi, dựa lưng ra nệm và chậm rãi ra lệnh:

- Thôi bác chạy chậm lại. Tám mươi đến chín mươi cây số thôi!

Tôi không cần biết cái hãm phanh vừa rồi có nguyên do nào. Mọi nguyên do đều vô ích khi
không sửa chữa được thực tại. Tôi nhắm mắt lắng nghe hơi thở của mình. Trong trí óc tôi có
tiếng kêu ‘Chương ơi! Chương ơi!’, tiếng kêu của tiềm thức tôi. Không có tiếng đáp lại. Vĩnh
viễn từ nay sẽ không có tiếng đáp lại.

Tôi lần mở sắc lấy ra tờ chương trình. Năm chữ ‘Đại giới đàn Phước Huệ’ in màu chữ đỏ.
Những danh từ xa lạ. Lật trang sau…

Điều kiện thọ giói Sa-di:
    Thuộc hai thời công phu,
    Thuộc hai cuốn luật tiểu.

Điều kiện thọ giới Tì-kheo:
    Đã thọ Sa-di ít nhất hai năm,
    Đủ hai mươi tuổi đời,
    Thuộc hai thời công phu và bốn cuốn luật tiểu.
    Phải có đầy đủ y bát, tọa cụ và đãy lọc nước.

Những điều kiện này đang ràng buộc Chương, đang thắt cột Chương vào một tập thể lớn có
qui luật, nơi đó Chương xóa bỏ quá khứ của anh. Nơi đó Chương sẽ là một cái lá trong nhiều
cái lá, một cành cây giữa những cành cây, một hạt bụi lẫn lộn trong hằng hà sa số hạt bụi. Và
tôi, Trâm, người yêu của anh sẽ không còn chiếm nửa linh hồn anh, ba phần tư linh hồn anh,
bốn phần năm linh hồn anh… mà tôi rút gọn lại chỉ còn là một chúng sinh xếp đồng đẳng với
muôn triệu chúng sinh trước đôi mắt anh. Tôi tham lam hơn, Chương ơi. Tôi không chịu được ý
niệm dân chủ, tôi ghét cái cân của ngành luật pháp bởi tôi không chịu đồng đẳng với ai, tôi
phải chiếm chỗ cao hơn hoặc là tôi đoạn tuyệt.

Mà anh có đi tu thật không? Có thể là con Như nó lầm không? Em nhận được thư hỏa tốc của
nó bảo đích xác là có tên anh trong danh sách những người nhận giới trong Đại giới đàn. Có
thể có sự trùng tên không? Em không hi vọng lắm. Khó có hai người cùng mang tên Lại Tăng
Chương!

Như nó gởi luôn cho tôi tờ chương trình. Ngày 17 tháng Chín Quí Sửu, 6 giờ:’ Hưng tác thượng
phan, khai chung bảng, khai kinh bạch Phật’. Tôi chẳng hiểu nói cái gì trong đó. Đoán lờ mờ là
có treo cờ, đánh chuông, tụng kinh. Chắc không sai mấy. 8 giờ: ‘Tấn đàn Sa-di’. Chắc có
nghĩa là truyền giới cho mấy ông sa-di. 12 giờ: ‘Quá đường’. Có nghĩa là đi qua phòng ăn để
thọ trai? Có thể là không phải vậy. Mặc kệ. Chiều ngày 19 sáng ngày 20: ‘Tấn đàn Tì-kheo’. Lễ
truyền giới cho Tì-kheo kéo dài lâu hơn chắc bởi cấp bực tu trì cao hơn. Chẳng biết Chương
sẽ nhận giới ở cấp bực nào.

Tôi hỏi bác tài:

- Bác dự tính chạy hết tốc lực thì tối nay nghỉ ở đâu?

- Theo cái đà này thì chúng ta phải nghỉ đêm tại Sông Cầu.

- Sông Cầu là chỗ nào?

- Giữa Qui Nhơn và Nha Trang.

- Chỗ đó có khách sạn không?

- Không hi vọng lắm.

Tôi định hỏi thêm ‘nếu không có khách sạn thì ngủ ở đâu và đậu xe chỗ nào’ nhưng trí óc tôi
lười biếng quá rồi, tôi không muốn đặt câu hỏi nữa. Thà để trí óc trống rỗng, trắng bệch còn
hơn bắt nó nghĩ suy lấy lệ.

Con đường chạy dài, xe vượt quá một cánh đồng thì bắt gặp một xóm làng. Những ngôi nhà
tranh đứng hiu quạnh bên cạnh những bụi chuối, bụi sả trông thật buồn. Tưởng chừng như
những ngôi nhà bỏ hoang nếu nhìn quanh quất đâu đấy không thấy một con chó đang nằm
khoanh nơi chái bếp, một con gà giò ốm lỏng khỏng đi thơ thẩn nơi vạt nước hay một bà lão
gầy gò da mặt nhăn nheo đang nhíu mắt nhìn ánh mắt rung rinh.

Chương sống cô đơn từ những ngày nhỏ. Gia đình anh là một thảm kịch: cha mẹ li dị nhau,
cha cưới vợ riêng và mẹ đi lấy chồng. Anh trở thành đứa trẻ mồ côi bởi vì về ở với cha thì
không chịu được dì ghẻ, về ở với mẹ thì không chịu được dượng ghẻ. Cha và mẹ anh khi cùng
ở với nhau thì điều khiển một nhà xuất nhập cảng lớn, khi li dị nhau thì trở nên hai nhà xuất
nhập cảng còn lớn hơn xưa. Trong việc tái lập gia đình, hai người đều tỏ ra gặp được hạnh
phúc. Tóm lại chỉ có Chương mới là kẻ bất hạnh cho dù cha và mẹ anh đều nài nỉ anh về ở với
mình, và ở với người nào thì anh cũng được chìu đãi sung sướng. Chương sống tự lập ngay
khi vào đại học. Khi ra trường, anh xin đi dạy học ở một tỉnh miền Trung.

Gia đình tôi và gia đình Chương quen nhau từ nhiều năm vì ba mẹ tôi cũng mở hãng xuất nhập
cảng. Cảm tình giữa chúng tôi biến thành tình yêu và sóng gió trong gia đình Chương khiến tôi
càng yêu anh nhiều hơn. Tôi thấy tôi có bổn phận đối với Chương, giúp đỡ và an ủi anh.
Chương chỉ còn có tôi trên đời để yêu ngoài cái đam mê suy tưởng triết học. Yêu tôi, nhưng
khi ba me tôi đề cập đến hôn lễ thì Chương tỏ vẻ ngại ngùng.

- Hôn lễ, đó là nghi thức cần thiết. Tôi nói.

Chương gật đầu:

- Đúng vậy.

- Nhưng sao anh…

- Tại vì… Tại vì…

Tôi đoán biết tại vì sao rồi. Ba me tôi giàu lớn còn anh thì hiện thời đang đứng sắp hàng theo
chỉ số. Phải đi nhích tới từng bước. Nếu không muốn cho đồng tiền cám dỗ thì mắt phải chăm
chăm nhìn lên những chữ lễ nghĩa, liêm sỉ, đạo đức. Chương yêu tôi mà không dám cưới tôi.
Ngoài ra, những hình ảnh của cuộc hôn lễ linh đình ngày cha anh đi cưới mẹ anh đã ám ảnh
anh. Chính tôi đã nhiều lần ngồi nhìn say mê những bức hình chụp đám cưới ấy. Cha anh mặc
áo thụng gấm có thêu những cái hoa to bằng cái bát úp. Mẹ anh đội khăn màu vàng như một
nàng công chúa. Xung quanh hai người là cả một rừng áo gấm và một bầy công chúa xinh đẹp
như nhau. Bây giờ thì những chữ Song Hỉ bị bẻ ra làm đôi, mỗi người cầm giữ một nửa.
Chương không thuộc về bên nào. Anh lửng lơ ở nơi biên giới, ở ‘no men’s land’, ở chỗ đáng lẽ
không có người.

Tôi nói:

- Nhưng em không thể đến sống với anh mà không có hôn lễ.

- Anh biết.

- Biết mà cứ để vậy?

- Anh không có lối thoát.

- Ba me em không thể đợi anh lâu.

- Chắc là anh mất em.

Từ ngày anh ra miền Trung, tôi làm gan không biên thư cho anh nữa. Tôi đợi sự hồi tâm của
anh. Thì đột nhiên có bức thư khẩn cấp của Như.

- Bác liệu có thể chạy xa hơn Sông Cầu không?

- Thưa cô chắc không được. Giờ này mà mình còn leo đèo Cù Mông thì không hi vọng vượt
quá Sông Cầu.

- Cù Mông là cái gì?

- Cái đèo lớn nằm giữa tỉnh Bình Định và Phú Yên.

- Sao mà lắm đèo lắm ải vậy?

- Miền Trung mà cô. Hết đèo đến ải.

Y như cuộc đời của Chương. Y như mối tình của chúng tôi. Người bình dân hát rằng ‘Thương
nhau tam tứ núi cũng trèo, thất bát sông cũng lội, cửu thập đèo cũng qua’. Đó là những núi
những đèo của thiên nhiên, dẫu cao dẫu sâu dẫu trắc trở mà với quyết tâm người ta vẫn có
thể vượt được. Chỉ cần thời gian. Với núi đèo do con người tạo ra thì vượt qua không phải dễ.
Và Chương đang chọn một lối vượt qua của anh.

Tôi ngủ lại đêm ở Sông Cầu. Đêm thật đen và thật buồn. Thành phố mằm bẹp dí xuống mặt
đất và mặt biển liếm sát bờ cát. Không thấy một sự cố gắng vượt lên. Hạnh phúc xuề xoà, hạnh
phúc cao một thước nằm ngang vòng tay ôm, hạnh phúc cao một thước sáu ngang đôi môi
hôn. Hạnh phúc trong giây phút hiện tại, trong đêm tối an nghỉ, giữa hai tràng đạn bắn vu vơ,
giữa hai quả hoả tiển câu vu vơ… Chương ơi, anh coi thường thứ hạnh phúc trần gian này,
anh ngước nhìn lên cao hơn, anh rướn mình lên cao hơn.

Sau một đêm ngủ chập chờn, mới mờ sáng chiếc Falcon đã lại lướt gió, nuốt vội đường
trường. Những cánh đồng còn chìm trong biển sương trắng đục mênh mông. Những toán lính
tuần đi thành hàng lặng lẽ trên những bờ ruộng thấp. Một đêm tối bất trắc đã qua, mọi người
đón nhận ánh sáng mặt trời, vui mừng như giữa những thời xa xưa loài người còn cư ngụ trong
hang đá.

Xe nhẫn nại bỏ lui lại những xóm làng. Xe hớn hở lượn theo vòng đèo, xe mê mải bò lên những
dốc cao. Ánh nắng đã lên, nhuộm hồng những tàu lá cau, nhuộm vàng những ruộng lúa. Tôi
không có cách nào trì níu thời gian, chiếc kim đồng hồ cứ lặng lẽ quay vòng và khi xe tôi ngút
hơi đậu lại chân núi nơi địa điểm của giới đàn thì mặt trời đã lên cao.

Trễ giờ rồi. Tôi không còn hi vọng nắm giữ lấy đôi tay Chương và đổ ra những giọt nước mắt
để bắt anh lưởng lự, khí giới của tôi chỉ có thế. Tôi hơ hãi leo lên triền núi, đặt chân bất kể lên
những viên đá gập ghềnh. Những bụi me đất, những đám lá dang, lá bìm bìm bò vô tư dưới
chân những cây mít cao. Lối đi thoai thoải rải rác lá vàng, lẩn quất dưới những tàng cây âm u.

Leo được nửa dốc, tôi mệt quá ngồi bệt xuống một tảng đá. Đằng nào thì cũng trễ rồi. Bóng
người lao xao ở đỉnh núi, di động rộn ràng. Tiếng tụng kinh chậm rãi, tiếng mõ gõ nhịp đều đều
được máy phóng thanh chuyền vang xuống núi. Tôi gượng đứng dậy bước tiếp. Vài người lên
xuống cùng chia với tôi lối đi hẹp. Tôi bước lên những bực cấp xây bằng đá. Tôi vịn tay lên
đường lan can bằng xi măng. Tôi bước lên những bước cuối cùng.

Người đi dự lễ mặc áo dài nghiêm trang đứng nhấp nhô ở dãy nhà trù, ở hiên nhà khách, ở
sân chùa chen chúc bụi trúc khóm tùng. Tôi len vào giữa những thân người, tôi luồn vào giữa
những thân cây. Tôi đi lần tới chánh điện. Uy nghi lặng lẽ, một tượng Phật lớn thếp vàng ngồi
tĩnh tọa trên đài cao. Phía dưới, nhiều vị sư đắp y vàng ngồi nghiêm trang sau những chiếc
bàn thấp sắp dàn ra hai bên. Nơi bàn giữa dưới chân tượng Phật, một vị đại lão hòa thượng
đang chậm rãi cân nhắc từng tiếng giữa cái im lặng mênh mông, cái im lặng mắc kẹt dưới
những góc bàn chân ghế, cái im lặng rung rinh trên đầu người:

- Các giới tử! Phật vì đại sự nhân duyên mà ra đời, cho nên nói ra không lường pháp môn, tám
vạn bốn ngàn diệu nghĩa… (tôi đang nhích tới để nhìn cho rõ mặt vị đại lão hòa thượng) … tóm
lại không ngoài ba môn học là giới, định, huệ. Song huệ do định mà phát, định nhờ giới mà
sinh, công năng sinh ra giới… Các bậc thánh nhờ giữ giới mà chứng bồ đề, chư Phật do nơi
giới mà thành chánh giác…

Tôi đưa mắt nhìn sang đám đông gần ba trăm vị sư trẻ đang quì trật tự trước lễ đài, cúi đầu
lắng nghe. Không cần hỏi ai tôi cũng biết đó là những ông sa di. Tôi vội vàng rời chỗ đứng đi
lần về phía giới trường đó.

Những ông sa-di mặc áo tràng màu xám. Vì giới trường hẹp, họ sắp thành mười mấy hàng, mỗi
hàng gần hai mươi ông. Tôi điểm mặt từng người một để tìm khuôn mặt của Chương.

Hàng đầu: một, hai, ba, tư, năm… mười ba, mười bảy… không có.

Hàng nhì: một, hai, ba, tư… mười lăm, mười sáu… không có.

Hàng ba:một, hai, năm… bảy… mười hai…

Hàng tư: một, hai…tám, chín…

Tim tôi đập rộn ràng. Lạy trời đừng có Chương. Sự thể sẽ không quá chậm đâu miễn là không
có Chương trong đó. Tôi sẽ chấp nhận mọi điều kiện của Chương, tôi sẽ không cần đám cưới
linh đình, tôi sẽ ở cạnh Chương giúp anh vượt qua những khổ não chập chùng đang bủa vây
anh. Tôi sẽ quày xe lại đi ngay ra Trung tìm anh, tôi sẽ tự lái xe lấy và lần này kim tốc độ sẽ chỉ
80 cây số là cùng, bởi chưng tôi yêu đời, bởi chưng tôi quí trọng sự sống.

Hàng chín: một, hai…tám… mười bảy… Không

Hàng mười: một, hai… mười bố, mười lăm… Không

Hàng mười một: một…

Tim tôi nhói lên. Mắt tôi hoa đi. Tôi vội bấu tay vào khung cửa. Chương đó! Rõ ràng là Chương
đó! Tôi nhìn anh trừng trừng. Anh cúi đầu lắng nghe pháp môn của hòa thượng.

- Nay các vị nguyện bỏ thế tục theo phép xuất gia, vượt khỏi thường tình là không lạy cha mẹ.
Song các vị phải nhớ bốn ân đức lớn trong giờ phút này, phải chuyên tỉnh lễ tạ, về sau không
còn lạy nữa.

Có tiếng phát ra từ loa phóng thanh:

- Giới tử xoay về hướng Bắc để tạ bốn ân.

Những tấm lưng cúi xuống, quì lạy, đứng lên, rồi lại nhịp nhàng cúi xuống, cuồn cuộn như
những lượn sóng nhấp nhô. Lạy tạ cha mẹ! Phải lắm, cha mẹ ‘sinh thành chi đức’, công lao
như bể trời. Tôi nghe người ta nói ‘cát ái từ thân’, nhưng cát ái từ thân đâu phải chỉ có cắt đứt
tình thương đối với cha mẹ. Nơi những quả tim kia chỉ có tình thương cha mẹ thôi sao?
Chương ơi, thế em không có một chỗ đứng nào trong trái tim của anh sao? Sao anh không lẩm
nhẩm tiếp lời hòa thượng rằng: ‘Còn riêng con, con xin lạy thêm một lạy để tạ từ…’ Không
không, anh tha lỗi cho em, em không dám đòi hỏi một cái lạy của anh. Tình yêu không có
nghĩa gì hết. Đối với cha mẹ, từ giờ phút này anh đã xin cắt đứt bổn phận rồi mà. Bốn cái lạy
cuối cùng hướng về cha mẹ trả nghĩa sinh thành. Từ nay dù cha mẹ có từ trần, anh cũng
không được quyền quì lạy trước bàn thờ nữa. Anh đã cắt đứt mọi dây liên lạc tình cảm, cắt đứt
mọi bổn phận riêng tư, như cái cây đã bức lìa hết mọi lớp rễ chằng chịt bám vào lòng đất và
thay vào đó, cây sẽ nhú ra những lớp rễ mới, bám vào những sinh môi mới. Em thuộc vào sinh
môi cũ của anh. Đã cắt đứt lìa rồi! Hai giọt nước mắt lặng lẽ lăn trên má tôi.

Cùng với các vị sa di, anh vừa tụng niệm bốn lời thệ nguyện vừa quì lạy liên hồi:

Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ,
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn,
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học,
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Anh lạy vụng hơn mọi người, luôn luôn quì gối chậm hơn và đứng dậy cũng chậm hơn. Có hồi
vường víu gấp gáp, anh lúng túng sắp ngã, nhưng anh gượng lại được. Nhìn anh quì lạy mà
lòng em xót xa. Quì lạy là cái hình thái khiêm tốn cùng cực, hạ mình cùng cực, là xóa bỏ cái ngã
mạn to lớn mà ngoài đời, trước kia anh đã dựng lên với tất cả niềm kiêu hãnh. Bây giờ, ở giữa
chốn này, anh xếp lại đôi cánh đại bàng.

Giọng trầm trầm của hòa thượng chủ lễ:

- Các giới tử, cái y này tiếng Phạn gọi là ca sa. Mặc y này có thể giải thoát tham, sân ,si… Tôi
nay trao y này cho các vị, các vị phải gia pháp mà thọ trì.

Tiếng hòa thượng vừa dứt, mỗi sa di lần mở chiếc y vàng mới tinh còn nguyên lằn xếp choàng
vào người, choàng ra ngoài chiếc áo xám đang mặc. Gần ba trăm vị vươn tay duỗi vai, xốc cổ,
vuốt lưng.. đã tạo thành một sinh hoạt rộn ràng. Nhiếu vị lúng túng trong việc tháo cái dải áo
và cột lại dải áo. Nhiều vị vội vàng xỏ tay lộn ngược. Chương là một trong những người lúng
túng. Ngoài đời anh vẫn vậy. Anh như con hải âu bay vượt trùng dương, thách thức bão tố,
nhưng để đứng trên boong tàu thì chỉ làm trò cười cho lũ thủy thủ độc ác nhỏ nhen.

Một vị tì kheo đứng cạnh đó đã tiến lại choàng chiếc y vàng lên vai anh. vị đó còn ân cần buộc
dải áo giúp anh và vuốt thẳng bâu áo. Xin cảm tạ vị tì kheo rộng lòng lân mẫn. Chương hôm
nay chỉ còn có quí vị để giúp đỡ, để an ủi. Ngày trước đôi mắt tôi chọn ca vát cho anh. Đôi tay
tôi chọn bít tất cho anh. Mũi tôi chọn nước hoa cho anh. Hôm nay thì những món kể trên trở
thành kỉ niệm. Hòa thượng lúc nãy có trao giới tướng:

- Các ông suốt đời không đeo tràng hoa thơm, không xoa ướp dầu thơm vào người, không
xem nghe ca múa hát xướng, không ngồi giường cao, không tham chứa vàng bạc…

Mọi giới cấm đều không nặng đối với Chương. Khi ở ngoài đời anh cũng chỉ bị nhuộm màu đời
một cách lợt lạt. Luôn luôn anh là kẻ phong phú trong suy tưởng mà bần cùng trong hưởng thụ.


Khi các vị sa di đã tề chỉnh y vàng đứng sát cạnh nhau thì cái quang cảnh giới trường bỗng
sáng rực hẵn lên. Màu vàng rực rỡ, màu của tâm niệm giải thoát, màu của Đông Nam Á Châu
tràn đầy ánh nắng và tràn đầy khổ đau. Chương bây giờ đã hòa mình vào cái khối màu vàng
kia rồi. Anh lẫn lộn trong đó, anh biến mất trong đó, không thể chỉ nhìn sau lưng mà biết được
anh, không thể chỉ nhìn dáng đi mà biết được anh. Mà bây giờ cho dù có nhìn rõ mặt, thì anh
cũng đã không còn là anh nữa rồi. Anh đã thay đổi khác rồi.

Tiếng chuông trống đổ hồi chấm dứt buổi lễ. Các sa di sắp hàng đi một vòng trước sân chùa,
đi theo một hành lang dài để về các liêu. Từ một góc hoa viên, đoàn nhã nhạc bốn người mặc
áo đen dài luân phiên nhau thổi những điệu kèn thật buồn. Tôi rời chỗ đứng, đi ra phía hành
lang, ẩn mình dưới một gốc trắc bách diệp.

Đoàn sa di lần lượt đi qua, áo vàng rực rỡ, mắt nhìn xuống đất, chân bước khoan thai. Tiếng
kèn thanh thoát, tiếng kèn nỉ non như dẫn dụ gót chân, như nâng nhẹ gót chân, những gót
chân trần chạm nhẹ trên nền xi măng.

Một vị sa di đi qua, gương mặt nông dân nặng và chắc. Tiếp tới, một vị nét mặt ngây thơ, tuổi
chưa đến 18. Một vị mày rậm và dài, mắt xếch như môn sinh của một Thiếu lâm tự. Một vị gầy
gò mảnh khảnh tuổi có đến ba mươi. Một vị đẩm thấp mập mạp dáng khoan thai yêu đời. Một
vị da mặt đen đúa lấm tấm nhiều mụn. Chương lửng thững đi tới kia. Luôn luôn nét mặt anh
rạng rỡ và dáng dấp uy nghi. Không một cử động dư. Anh đi ngang qua chỗ tôi đứng. Ánh
sáng nơi khuôn mặt bất động làm tôi bỗng nhiên bối rối kinh sợ. Tự nhiên tôi quì xuống.

Hành động bất ngờ khiến có người lao xao di chuyển gần tôi. Họ đoán một biến động, phòng
ngừa một bạo động. Tôi phải giơ tay ra hiệu cho họ yên tâm. Tôi không muốn xáo động những
bước chân của Chương. Lúc nãy tôi có ý định đợi khi anh đi qua tôi sẽ khẻ gọi tên anh. Tiếng
gọi sẽ khua động cả tâm thức anh, sẽ chấn động cả tâm linh anh, sẽ phá đổ cả cái mặt biển
bình lặng của tâm hồn anh hiện tại. Tôi tự tin bởi tôi biết tôi ngự trị nơi cái vùng trời quá khứ
của anh. Nhưng khi nhìn ánh sáng nơi khuôn mặt bất động của anh, tôi vụt thấy tôi là kẻ bại
trận. Vô nghĩa, phù du là tình yêu của một người đàn bà, là chính ngay người đàn bà. Trời ơi!
Một con phù du vừa có ảo vọng ngông cuồng là vỗ cánh lên để làm giật mình một con sư tử!

Bóng của Chương đi khuất, nối tiếp theo là những bóng khác, cũng chậm rãi đều đặn theo một
nhịp điệu êm êm, mê hoặc của giọng kèn nỉ non. Tôi vẫn cứ quì đó bất động, bất lực, cảm thấy
thấm thía lần đầu tiên thân phận phù du của mình.


                                                    ___________________