To the author of ‘The Floating Life’ *

By borrowing a name to call, we already know it’s a false name. Using false names to express reality, it’s reality that
should be non-reality. A non-reality is unnecessary, isn’t it?

Before and now, the so-called love may be real or may not be.  It’s real because of our passion and charm. It’s not
real when compared with infinity: it’s only a twinkling of an eye. So love is, in fact, a real-but-not-real or a reality-in-
non-reality.

Hundred of flowers are precious, not only by their beauty and fragrance, but also by their ephemeral, short lives.
Pearls and jewels are costly, not only by their exchange value, but mainly by their scarcity, hard finding.
Man, in his possible limits, it is always great happiness having love; whether it’s real or not or though it’s only real-in-
non-reality.

Now we must consider a non-reality as reality. We must live by non- reality instead of reality; hoping for something
already unnecessary to reluctantly appreciate some echoes; it really can’t be helped! As for shouting, being angry at
vain, uncertain, floating ideas and images that one suffers hundreds of grieves and pains; it is a bitter sorrow!

Oh literature, our misery in the past and present!



                                                                                                   12/04
(*) Shen Fu (1763-1808?)



Gởi tác giả
‘Phù sinh lục kí’

Mượn danh để gọi, vẫn hay là danh-giả. Lại dùng danh diễn thực, tất là thực-giả. Thực-giả, có thừa chăng?

Từ xưa, cái gọi là tình yêu, có thể thực, có thể không thực. Thực, vì cảm được lòng ta, làm ta đắm say mê luyến.
Không thực, vì so trong cuộc vô cùng, chỉ là chớp mắt thoảng qua. Vậy nên gọi là thực mà không thực, là thực-trong-
không-thực.

Trăm hoa quí, không tất quí vì sắc hương, còn vì kiếp mong manh, ngắn ngủi. Châu ngọc trọng, không tất trọng vì
giá trị đổi trao, mà còn vì khó tìm, hiếm ít. Người ta, trong hữu hạn bất khả của mình, có được tình yêu quả là đại
hạnh, cho dù thực hay không thực, dù chỉ là thực-trong-không-thực.

Nay phải xem thực-giả tựa như thực, phải dùng thực-giả nương sống thay cho thực, tức mong cầu ở điều vốn dĩ đã
thừa, gượng thưởng chút dư âm, quả là bất dĩ. Còn đến như kêu gào, phẫn nộ vì trăm mối vọng giả, hư phù, đến
thân mang khổ lụy, há chẳng là điều chua xót, cay đắng lắm ru?

Ôi văn chương, nỗi khốn cùng kim cổ!


p.lan




                                                                   _____________________

Đọc
‘Kinh Kim Cương giảng nghĩa’

Trọn quyển sách dày hơn 600 trang nhưng đọc xong hẵn ai cũng có thể giữ được những ấn tượng rõ rệt, dễ dàng
khái quát những nét chánh yếu của toàn quyển kinh và hơn hết, tìm thấy niềm tin nơi chánh pháp, nơi bước đường
thực hiện.

Điểm nổi bật cần nêu lên trước tiên đây là quyển kinh vào hàng thượng thừa, nghĩa lí cao siêu cùng tột nhưng con
đường thực hiện lại tiếp cận đời sống, gắn liền sinh hoạt thường ngày.

Quyển kinh gồm hai phần, phần đầu chủ trì li tướng, phần hai: li niệm. Để thấy tánh phải nhất thiết lìa tướng. Bao
lâu còn chấp tướng tức còn vướng mắc; còn bị chuyển, phải đọa luân hồi. Con đường giải thoát đòi hỏi một sự
buông xả toàn triệt. Phần thứ hai của quyển kinh gần như trùng lắp, nhưng đây là dụng công sâu xa, vừa lợi ích cho
người tụng đọc vì đòi hỏi chú tâm, vừa đặt căn bản cho một sự giải trừ thiết yếu: xả niệm. Nếu tâm vắng lặng, thanh
tịnh thì tướng do đâu mà sanh? Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Hình như đức Phật – trong quyển kinh này
– không giải quyết trên một bình diện rộng lớn, đầy đủ mà chỉ bằng phương tiện khéo léo dùng rất nhiều ví dụ, so
sánh theo phép tiệm tiến nhấn mạnh đến việc thụ trì tụng đọc kinh điển, xem như thích ứng và lợi ích hơn hết.

Vấn đề trọng tâm, theo như trưởng lão Tu Bồ Đề đặt ra là làm sao hàng phục tâm. Và đây là câu trả lời: bố thí, trì
giới, nhẫn nhục... Toàn quyển kinh là âm vang của lời quả quyết hùng hồn, đơn giản trên, không gì khác.
Quyển kinh đã mở đầu bằng những sinh hoạt thường nhật của đức Phật trong những ngày tại thế: mặc áo, cầm
bình bát đi xin ăn, sau khi xin xong trở về chỗ cũ, ăn cơm, thu y bát, rửa chân, trải tọa cụ ra ngồi... tất tất được xem
như điển hình mẫu mực của một quá trình tu tập. Toàn bộ bát nhã là lời vang vọng của đệ nhất nghĩa không nhưng
phương tiện thực hiện lại là sự khẳng định quyết liệt, dứt khoát trong từng phút giây của đời sống trước mặt.

Cần phải nhấn mạnh ở đây, vai trò của người giảng nghĩa, ngoài sức học uyên bác là tấm lòng thiết tha, ân cần đối
với kẻ hậu học. Lành thay, trong thời mạt pháp, thế đạo suy vi, nhân tâm điên đảo, chúng ta còn may mắn được
tụng đọc những kinh điển thù thắng, tối diệu này, để còn chút an ủi cho sự có mặt thừa thãi, vô dụng của mình ở
trần gian.

Tôi còn có thể viết gì ngoài cái ý tưởng duy nhất này mà bất cứ ai cũng đều cảm thấy: là sự mong muốn, khao khát
bước lên con đường của Đạo. Đó cũng là ý nghĩa chân thực của tín, thụ, phụng, hành, là câu trả lời xác đáng, duy
nhất cho ước vọng ‘hàng phục kì tâm.’



p.lan
1985



                                                                    ___________________